⭐ STORY QUEST 🏆 PAGE 26/62
BOOK 2PAGE 26/62
CH 5PAGE 26/62
PAIR · READ + FLIP
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 1 / 62
Coming down through the Gateway was nothing like any landing Alex had ever imagined. He dropped through a layer of leaves, struck a thick branch, and ended up snagged by his backpack strap, dangling in midair. Below him lay a narrow ditch carpeted with rotting leaves and black mud; the smell of wet earth, decay, and fresh silt hit him all at once.
Cú tiếp đất từ cổng không gian Gateway diễn ra chẳng giống bất kỳ cuộc hạ cánh nào Alex từng tưởng tượng. Cậu rơi xuyên qua một tầng lá, va vào một cành cây lớn rồi bị quai ba-lô móc lại, treo lủng lẳng giữa không trung. Bên dưới là một con mương nhỏ phủ kín lá mục và bùn đen; mùi đất ẩm, lá mục và bùn non xộc lên mũi.
穿过 Gateway 空间门后的着陆,和亚历克斯想象中的任何一种降落都完全不同。他穿过一层浓密的树叶,撞上一根粗大的树枝,结果背包肩带被勾住,整个人悬在半空中晃荡。脚下是一条铺满腐叶和黑泥的小沟;潮湿泥土、腐叶和新鲜淤泥的气味一下子扑进鼻腔。
Gateway 공간문을 빠져나온 착지는 알렉스가 상상해 본 어떤 착륙과도 전혀 달랐다. 그는 빽빽한 나뭇잎 층을 뚫고 떨어지다 굵은 가지에 부딪혔고, 배낭 끈이 걸리는 바람에 허공에 대롱대롱 매달렸다. 아래에는 썩은 잎과 검은 진흙으로 뒤덮인 좁은 도랑이 있었고, 젖은 흙과 부패한 낙엽, 갓 뒤집힌 진흙 냄새가 한꺼번에 코를 찔렀다.
A few meters away, Jack splashed into a dense tangle of vines and struggled upright with half a chocolate energy bar still clenched between his teeth. Light and dust from the portal billowed upward, then dissolved into the thick, humid fog.
Cách đó vài mét, Jack rơi tõm vào một bụi cỏ dây leo um tùm, lồm cồm ngồi dậy mà miệng vẫn còn ngậm nửa thanh năng lượng sô-cô-la. Tia sáng lẫn Khói bụi từ cổng dịch chuyển bốc lên nghi ngút rồi tan biến vào màn sương mù ẩm ướt dày đặc.
几米外,杰克扑通一声摔进一大片缠结的藤蔓里,嘴里还咬着半根巧克力能量棒,狼狈地撑起身子。传送门喷出的光芒和尘雾翻涌而起,随后渐渐消散在浓重而潮湿的雾气中。
몇 미터 떨어진 곳에서 잭은 뒤엉킨 덩굴숲에 풍덩 떨어졌다. 입에는 아직도 초콜릿 에너지바 반쪽을 문 채였다. 그는 허우적거리며 몸을 일으켰고, 포털에서 뿜어져 나온 빛과 먼지 구름은 피어올랐다가 짙고 축축한 안개 속으로 서서히 흩어졌다.
The whole scene felt like a spacecraft free-fall straight out of Avatar, except there were no blue Na'vi waiting to greet them. The backpack strap slipped off the branch. Alex dropped hard onto the edge of the ditch, catching himself with both hands in the wet leaves. He looked up, gasping, and hurriedly brushed leaves from the lenses of his Gable Glass. "Navigation system... oh man, my precious glasses!"
Cảnh tượng giống hệt cú rơi tự do của phi thuyền trong Avatar, chỉ khác là không có người Navi da xanh nào ra đón. Quai ba-lô trượt khỏi cành. Alex rơi bịch xuống mép mương, hai tay chống vào lớp lá ướt. Cậu ngẩng lên, thở dốc rồi vội quẹt lá cây khỏi tròng kính Gable Glass. “Hệ thống định vị… ôi trời, cái kính cưng của tôi!”
眼前这一幕活像《阿凡达》里飞船自由坠落的场景,只不过没有蓝皮肤的纳美人出来迎接他们。背包带从树枝上滑脱。亚历克斯重重摔到沟边,双手撑进湿漉漉的落叶里。他抬起头喘着气,赶紧把 Gable Glass 镜片上的叶子拨掉。“导航系统……天啊,我宝贝的眼镜!”
눈앞의 광경은 영화 《아바타》 속 우주선 자유낙하 장면과 꼭 닮아 있었다. 다만 파란 피부의 나비족이 마중 나오는 일은 없었다. 배낭 끈이 가지에서 미끄러졌다. 알렉스는 도랑 가장자리에 쿵 하고 떨어져 젖은 낙엽 위를 두 손으로 짚었다. 숨을 몰아쉬며 고개를 든 그는 서둘러 Gable Glass 렌즈에 붙은 잎을 털어 냈다. “항법 시스템… 아, 내 소중한 안경!”
P1
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 2 / 62
The lenses flickered rapidly before displaying three warning lines: GPS: SIGNAL LOST. YEAR: ERROR 404. LOCAL TIME: N/A. "You don't need to stare at your glasses, genius," Jack said, spitting out a blade of grass as he grimaced and pulled sharp thorns from his windbreaker, then pointed toward a branch overhead.
Màn hình kính chớp nháy liên hồi trước khi hiện ba dòng cảnh báo: GPS: SIGNAL LOST. YEAR: ERROR 404. LOCAL TIME: N/A. “Mày không cần nhìn kính đâu thiên tài ạ,” Jack nhổ ra một cọng cỏ, vừa nhăn mặt gỡ từng cái gai nhọn hoắt găm đầy trên áo khoác gió vừa chỉ tay lên cành cây.
镜片疯狂闪烁了几下,随即跳出三行警告:GPS: SIGNAL LOST. YEAR: ERROR 404. LOCAL TIME: N/A. “不用盯着你的眼镜看了,天才。”杰克吐掉嘴里的一根草,一边皱着脸从风衣上拔下尖刺,一边抬手指向头顶的树枝。
렌즈가 빠르게 깜빡이더니 세 줄의 경고가 떠올랐다. GPS: SIGNAL LOST. YEAR: ERROR 404. LOCAL TIME: N/A. “안경 그만 들여다봐도 돼, 천재님.” 잭은 입에 들어간 풀잎을 뱉고는 얼굴을 찡그리며 바람막이에 박힌 날카로운 가시를 하나씩 뽑아 냈다. 그러고는 머리 위 가지를 가리켰다.
"A gray monkey is staring at you like it's judging your entire existence. Either the city zoo just had a mass breakout, or that weird portal of yours threw us back into the Jurassic." Around them stretched a dense mangrove forest, its roots twisting up through the mud in a tangled maze.
“Một con khỉ lông xám đang nhìn mày với ánh mắt phán xét sâu sắc kìa. Hoặc là sở thú thành phố vừa sổng chuồng tập thể, hoặc là cái cổng kỳ cục của mày vừa ném tụi mình về kỷ Jura rồi đấy”. Xung quanh hai đứa là một khu rừng ngập mặn rậm rạp, rễ cây đước và cây vẹt trồi lên khỏi mặt bùn thành những đường ngoằn ngoèo chằng chịt.
“一只灰毛猴子正盯着你,那眼神像是在审判你整个人生。要么是市动物园集体越狱了,要么就是你那扇古怪的传送门把我们扔回侏罗纪了。”四周是一片茂密的红树林,树根从泥地里扭曲着钻出来,交错成一座复杂的迷宫。
“저기 회색 원숭이 한 마리가 네 존재 전체를 평가하듯 쳐다보고 있잖아. 도시 동물원에서 단체 탈출이라도 했거나, 아니면 네 그 이상한 포털이 우릴 쥐라기로 던져 버린 거겠지.” 둘러보니 사방이 빽빽한 맹그로브 숲이었다. 뿌리들이 진흙 위로 뒤틀려 솟아올라 복잡한 미로를 이루고 있었다.
Mosquitoes buzzed around their ears while water dripped steadily from the canopy into the ditch. Jack glanced around and muttered that the place felt like a level in a survival game, except there was no restart button. Alex braced his hands on his knees, breathing hard, his throat dry from the fall. "We need to find a water source," he said, recalling a rule he had once read.
Muỗi vo ve quanh tai; nước nhỏ tí tách từ tán lá xuống mặt mương. Jack đảo mắt nhìn quanh, lẩm bẩm rằng khung cảnh giống một màn game sinh tồn, chỉ khác là ở đây không có nút restart. Alex chống tay lên đầu gối, thở dốc; cổ họng khô rát sau cú rơi. “Phải tìm nguồn nước ngay,” Alex nhớ nguyên tắc mà cậu từng đọc.
蚊子在耳边嗡嗡盘旋,树冠上的水珠不停滴进沟里。杰克环顾四周,嘀咕这里像极了生存游戏的一关,只不过没有“重新开始”按钮。亚历克斯双手撑着膝盖,大口喘气,摔落后喉咙干得发痛。“我们得先找到水源。”他说着,想起自己曾读过的一条求生原则。
모기가 귓가에서 윙윙거렸고, 나뭇잎 사이에서 떨어진 물방울이 도랑으로 똑똑 떨어졌다. 잭은 주위를 둘러보며 여기가 꼭 생존 게임 한 스테이지 같다고 중얼거렸다. 단, 여기엔 재시작 버튼이 없었다. 알렉스는 두 손으로 무릎을 짚고 거칠게 숨을 몰아쉬었다. 추락 충격 탓에 목이 바싹 말라 있었다. “우선 물줄기를 찾아야 해.” 그는 예전에 읽었던 생존 원칙 하나를 떠올리며 말했다.
P2
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 3 / 62
"Gravity always pulls water toward the lowest ground. These little channels should lead to a river or an estuary. Once we get out of the dense forest, the radar antenna will have a clear sweep." "The problem is, the water is already under your feet—up to your calves!" Jack grumbled as he trudged through the sucking mud.
“Trọng lực luôn kéo nước xuống chỗ trũng nhất. Dòng chảy của các lạch nhỏ sẽ dẫn ra sông hoặc cửa biển. Ra khỏi rừng rậm thì ăng-ten radar mới có tầm quét thoáng được”. “Vấn đề là nước đang ở dưới chân mày đấy, ngập tới bắp chuối rồi!” Jack làu bàu, bước từng bước nặng nề qua lớp bùn lầy thụt.
“重力总会把水拉向最低处。这些小水道的水流会通向河流或者入海口。等我们离开这片密林,雷达天线就能获得开阔的扫描范围。” “问题是,水现在就在你脚下——都淹到小腿了!”杰克抱怨着,在会吸住靴子的烂泥里艰难前行。
“중력은 언제나 물을 가장 낮은 곳으로 끌어당겨. 이런 작은 수로는 강이나 하구로 이어질 거야. 이 빽빽한 숲만 빠져나가면 레이더 안테나도 시야가 트여서 제대로 스캔할 수 있어.” “문제는 물이 이미 네 발밑에 있다는 거야. 종아리까지 차올랐다고!” 잭은 푹푹 빠지는 진흙을 힘겹게 헤치며 투덜거렸다.
They had splashed less than fifty meters when a deep, muffled sound made both their chests vibrate: a roar that ripped through the stillness. It sounded nothing like a jet engine or a train horn. It carried a raw, primal force that made every hair on their bodies stand on end.
Hai đứa lội bì bõm chưa được năm mươi mét thì một âm thanh trầm đục khiến lồng ngực cả hai rung lên bần bật: một tiếng gầm xé toang không gian tĩnh lặng. Âm thanh đó không giống tiếng động cơ máy bay hay tiếng còi xe lửa, nó mang một thứ uy lực nguyên thủy khiến lông tơ khắp người dựng đứng.
两人才在水里跋涉了不到五十米,一声低沉的闷响就震得两人的胸腔发颤——一记咆哮硬生生撕开了寂静。那声音既不像喷气发动机,也不像火车汽笛,而是一股原始而凶猛的力量,让他们浑身汗毛都竖了起来。
두 아이가 물을 첨벙거리며 채 50미터도 가지 못했을 때, 낮고 둔중한 소리가 가슴을 울렸다. 정적을 찢어 놓는 포효였다. 제트 엔진이나 기차 경적과는 전혀 다른 소리였다. 원초적인 힘이 그대로 담긴 듯해 온몸의 털이 곤두섰다.
Alex grabbed Jack by the shoulder and yanked him down into a hollow among the roots of a nearby ancient tree. Both boys held their breath and pressed close together, their hearts pounding like drums at a school assembly. Less than twenty meters from their hiding place, on a relatively flat mudbank, a massive Indochinese tiger crouched low and stalked its prey.
Alex chộp lấy vai Jack, kéo giật cậu bạn tụt xuống một hốc rễ cây cổ thụ rỗng ruột gần đó. Cả hai nín thở, nép sát vào nhau, tim đập thình thịch như đánh trống trường. Cách chỗ hai đứa nấp chưa đầy hai mươi mét, trên một bãi đất bồi tương đối phẳng, một con hổ Đông Dương khổng lồ đang uốn mình rình mồi.
亚历克斯一把抓住杰克的肩膀,把他猛地拽进附近一棵古树根部的空洞里。两个人屏住呼吸,紧紧贴在一起,心跳得像学校集会上的鼓点。离他们藏身处不到二十米,一块相对平坦的泥滩上,一只巨大的印度支那虎正压低身体,悄无声息地逼近猎物。
알렉스는 잭의 어깨를 낚아채 근처 고목 뿌리 사이의 움푹 팬 공간으로 잡아당겼다. 두 사람은 숨을 죽인 채 바짝 붙어 웅크렸다. 심장은 학교 행사 때 울리는 북처럼 쿵쿵 뛰었다. 숨어 있는 곳에서 20미터도 채 떨어지지 않은 평평한 진흙톱 위에서 거대한 인도차이나호랑이가 몸을 낮춘 채 먹잇감을 노리고 있었다.
P3
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 4 / 62
Its brilliant orange coat, striped with glossy velvet-black bands, glistened with forest dew. Ropes of muscle shifted beneath its skin with every silent step. Its golden eyes burned with a cold, piercing focus, locked firmly on its opponent.
Lớp lông vàng cam rực rỡ với những vằn đen bóng như nhung ướt đẫm sương rừng, từng thớ cơ bắp cuồn cuộn dưới da chuyển động nhịp nhàng theo từng bước chân êm ru không một tiếng động. Đôi mắt nó vàng rực, quắc lên tia nhìn sắc lạnh ghim chặt vào đối thủ.
它那鲜亮的橙黄色皮毛上布满乌黑如天鹅绒般的条纹,沾着林间露水微微发亮。每一步无声落下,皮肤下成束的肌肉都随之起伏。金色的双眼闪着冰冷锐利的光,牢牢锁定着对手。
선명한 주황빛 털 위로 벨벳처럼 짙은 검은 줄무늬가 이어졌고, 숲의 이슬을 머금어 번들거렸다. 소리 없이 한 걸음 내디딜 때마다 피부 아래 굵은 근육이 물결치듯 움직였다. 황금빛 눈은 차갑고 날카로운 빛을 띤 채 상대를 정확히 겨누고 있었다.
Facing the tiger was not a lone victim, but two large wild boars, their bodies covered in coarse bristles and curved white tusks jutting from their snouts. "That's a real king of the jungle..." Jack whispered, cold sweat beading across his forehead.
Đối diện con hổ không phải một con mồi đơn độc mà là hai con heo rừng lớn, thân phủ lớp lông thô cứng, cặp nanh cong trắng hếu nổi bật trên mõm. “Chúa sơn lâm bằng xương bằng thịt kìa…” Jack thì thầm, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán.
面对老虎的并不是一只孤立无援的猎物,而是两头体型硕大的野猪。它们全身覆盖着粗硬的鬃毛,嘴边弯曲的白色獠牙格外醒目。“活生生的丛林之王啊……”杰克低声说道,额头上已经冒出一层冷汗。
호랑이 맞은편에 있는 것은 혼자 떨어진 먹잇감이 아니라 덩치 큰 멧돼지 두 마리였다. 몸은 거친 털로 뒤덮였고, 주둥이 양옆으로 휘어진 하얀 엄니가 도드라졌다. “진짜 정글의 왕이잖아…” 잭이 속삭였다. 이마에는 식은땀이 송골송골 맺혀 있었다.
"Hey, Alex, does your future-tech kit have a button that calls a superhero team—or maybe a miniature machine gun? I really don't want to become dessert for a giant cat." "Be quiet and watch!" Alex hissed, pressing Jack's head lower into the mud.
“Này Alex, bộ đồ nghề tương lai của mày có nút bấm nào gọi đội siêu anh hùng hay một khẩu súng máy mini không? Tao không muốn làm mồi tráng miệng cho mèo khổng lồ đâu”. “Im lặng và quan sát đi!” Alex ghì chặt đầu Jack xuống bùn.
“喂,亚历克斯,你那套未来装备里有没有什么按钮,能叫来一队超级英雄——或者一挺迷你机关枪?我可不想变成巨型猫科动物的餐后甜点。” “闭嘴,看着!”亚历克斯压低声音喝道,把杰克的脑袋按得更贴近泥地。
“야, 알렉스. 네 미래 장비에 슈퍼히어로 팀 부르는 버튼이나 미니 기관총 같은 건 없어? 거대한 고양이 후식이 되고 싶진 않은데.” “조용히 하고 봐!” 알렉스가 낮게 쏘아붙이며 잭의 머리를 진흙 쪽으로 더 눌렀다.
P4
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 5 / 62
The tiger unleashed an earth-shaking roar and shot forward like a bolt of golden lightning. It aimed straight for the smaller boar standing slightly to the left. Against a solitary animal, the hunt would have ended with a single pounce and a broken neck.
Con hổ gầm lên một tiếng kinh thiên động địa rồi phóng vụt tới như một tia chớp vàng. Nó nhắm thẳng vào con heo rừng nhỏ hơn đứng chếch bên trái. Nếu là một con mồi đơn độc, cuộc săn đã kết thúc chỉ sau một cú vồ bẻ gãy đốt sống cổ.
老虎发出一声震天动地的咆哮,像一道金色闪电般猛扑出去。它直奔左侧那头体型较小的野猪。如果面对的只是落单猎物,这场捕猎恐怕一扑之后就会以颈椎折断收场。
호랑이는 땅이 흔들릴 듯한 포효를 터뜨리더니 황금빛 번개처럼 튀어나갔다. 목표는 왼쪽에 약간 떨어져 있던 더 작은 멧돼지였다. 혼자 있는 먹잇감이었다면 한 번의 덮침으로 목뼈가 부러지며 사냥이 끝났을 것이다.
But the two boars did not panic and run. The instant the tiger launched itself into the air, the boar on the right charged like a compact armored vehicle, lowering its sharp white tusks and driving straight toward the predator's flank.
Nhưng hai con heo rừng không hề hoảng loạn tháo chạy. Đúng khoảnh khắc con hổ tung mình trên không trung, con heo bên phải lập tức lao tới như một chiếc xe bọc thép cỡ nhỏ, chĩa cặp nanh trắng hếu sắc lẹm húc thẳng vào sườn kẻ săn mồi.
但两头野猪并没有惊慌逃窜。就在老虎腾空扑出的瞬间,右侧那头野猪像一辆小型装甲车般猛冲上来,低下锋利的白色獠牙,直刺捕食者的侧腹。
하지만 두 멧돼지는 겁에 질려 달아나지 않았다. 호랑이가 공중으로 몸을 날리는 순간, 오른쪽 멧돼지가 소형 장갑차처럼 돌진했다. 날카로운 흰 엄니를 낮게 들이밀며 포식자의 옆구리를 정면으로 노렸다.
The sudden charge forced the tiger to twist in midair. Its claws only managed to rake a shallow gash across the boar's shoulder before it landed and skidded through the mud. The moment it touched down, the two boars swung rear-to-rear, forming a tight defensive circle with their sharp tusks pointing outward in every direction.
Cú húc bất ngờ buộc con hổ phải vặn mình trên không để né tránh, móng vuốt chỉ kịp cào xước một mảng da vai đối phương trước khi tiếp đất trượt dài trên bùn lầy. Ngay khi tiếp đất, hai con heo rừng lập tức quay mông vào nhau, tạo thành một khối phòng thủ tròn khép kín, cặp nanh nhọn hoắt hướng ra ngoài bốn phương tám hướng.
突如其来的冲撞逼得老虎在半空中扭身闪避。它的爪子只来得及在野猪肩上划出一道浅伤,落地后便在泥里长长滑了出去。刚一站稳,两头野猪立刻臀部相抵,组成严密的环形防线,锋利的獠牙朝向四面八方。
예상 밖의 돌진에 호랑이는 공중에서 몸을 비틀어 피해야 했다. 발톱은 멧돼지 어깨에 얕은 상처만 남겼고, 착지한 호랑이는 진흙 위를 길게 미끄러졌다. 땅에 닿자마자 두 멧돼지는 엉덩이를 맞댄 채 촘촘한 원형 방어 자세를 만들었다. 날카로운 엄니가 사방을 향했다.
P5
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 6 / 62
The tiger circled them, anger flashing in its eyes. It growled and dug its claws into the soft ground for traction, but the deep mud robbed its powerful legs of their launch force. Whenever the tiger feinted toward one side, the boar facing it stamped and snorted while the other immediately covered its companion's blind spot.
Con hổ lượn vòng quanh, mắt lóe lên sự giận dữ. Nó gầm gừ, cào móng xuống nền đất nhão để lấy đà. Nhưng lớp bùn sình lầy lội đã triệt tiêu toàn bộ lực bật móng vuốt của nó. Mỗi khi hổ định vờn sang một góc, con heo đối diện lập tức dậm chân phì phì, con còn lại lập tức che chắn điểm mù cho bạn.
老虎绕着它们打转,眼中闪着怒火。它低声咆哮,用爪子抓挠松软的地面想借力起跳,可深厚的烂泥几乎卸掉了后腿所有爆发力。每当老虎佯攻一侧,正对它的野猪就跺脚喷气,另一头则立刻补上同伴的视线死角。
호랑이는 분노를 번뜩이는 눈으로 두 멧돼지 주위를 빙빙 돌았다. 으르렁거리며 부드러운 땅을 발톱으로 긁어 추진력을 얻으려 했지만, 깊은 진흙이 강한 뒷다리의 도약력을 거의 빼앗아 버렸다. 호랑이가 한쪽으로 속임 동작을 할 때마다 정면의 멧돼지는 발을 구르며 콧김을 뿜었고, 다른 한 마리는 곧바로 동료의 사각을 막았다.
Three times the tiger attacked, and three times the boars drove it back with perfect mutual coverage and deadly tusks. When the tiger realized that the cut along its side was bleeding and that its prey showed no opening born of panic, it stopped.
Con hổ đã ba lần lao vào tấn công, và cả ba lần đều bị đẩy lùi bởi sự bọc lót hoàn hảo và cặp nanh chết chóc. Nhận thấy vết rách ở sườn đang rỉ máu và con mồi không hề có kẽ hở hoảng loạn, con hổ dừng lại.
老虎连续发动了三次进攻,又连续三次被两头野猪完美的相互掩护和致命獠牙逼退。它意识到侧腹的伤口正在流血,而猎物丝毫没有因恐慌露出破绽,于是停了下来。
호랑이는 세 번 공격했고, 세 번 모두 멧돼지들의 완벽한 상호 엄호와 치명적인 엄니에 밀려났다. 옆구리 상처에서 피가 흐르고 있는데도 먹잇감은 공포 때문에 빈틈을 보이지 않았다. 호랑이는 결국 멈춰 섰다.
It gave the wound a quick lick, its yellow eyes narrowing with calculating hostility, then slowly backed into the darkness of the thorny mangroves. "See that?" Jack finally breathed out, his hands still trembling.
Nó liếm nhẹ vết thương, đôi mắt vàng lóe lên tia nhìn gườm gườm đầy toan tính, rồi từ từ lùi từng bước vào bóng tối của rặng đước gai. “Thấy chưa?” Jack thở hắt ra một hơi dài thườn thượt, hai tay run lẩy bẩy.
它飞快舔了一下伤口,黄色眼睛眯起,透出盘算般的敌意,随后一步一步退进带刺红树林的阴影里。“看见没?”杰克终于长长吐出一口气,两只手仍在微微发抖。
호랑이는 상처를 한 번 핥고는 계산하듯 적의를 담은 노란 눈을 가늘게 떴다. 그러고는 가시 돋친 맹그로브 숲의 어둠 속으로 한 걸음씩 물러났다. “봤지?” 잭이 그제야 길게 숨을 내쉬었다. 두 손은 여전히 떨리고 있었다.
P6
CHAPTER 1 RỪNG KHÔNG CÓ TRÊN BẢN ĐỒ
PAGE 7 / 62
"One of them alone would've ended up as roast sausage, but together they made even a top predator think twice. So I guess the great lesson of life is: never pick a fight alone." "It wasn't just the numbers," Alex murmured, still staring at the churned-up mud.
“Một con thì chắc chắn thành xúc xích nướng, nhưng hai con hợp lại thì mãnh thú cũng phải dè chừng. Hóa ra chân lý cuộc đời là không bao giờ đi đánh nhau một mình”. “Đó không chỉ là số lượng,” Alex lẩm bẩm, mắt vẫn dán vào bãi bùn toác toạc.
“要是只有一头,肯定早成烤香肠了。可两头联手,连这种猛兽都得掂量掂量。看来人生真理就是:千万别一个人去打架。” “不只是数量。”亚历克斯低声说道,视线仍停在被搅得一片狼藉的泥地上。
“한 마리였으면 진작 구운 소시지가 됐을 텐데, 둘이 힘을 합치니까 저런 맹수도 함부로 못 덤비잖아. 인생의 위대한 교훈은 이거네. 싸움은 혼자 하지 말 것.” “단순히 숫자 때문만은 아니야.” 알렉스는 엉망으로 뒤집힌 진흙바닥에서 눈을 떼지 않은 채 중얼거렸다.
"It was the terrain, the timing, and knowing the stronger opponent's weakness. The tiger had far greater individual killing power, but the mud stole its momentum, and the two boars turned the terrain into a defensive advantage." As Alex finished speaking, his Gable Glass began vibrating in rapid pulses: RADAR ALERT: METALLIC SIGNATURE DETECTED. 250M SOUTH-EAST.
“Đó là địa hình, thời điểm và sự hiểu rõ điểm yếu của kẻ mạnh. Con hổ mạnh hơn tuyệt đối về lực sát thương cá nhân, nhưng bùn lầy làm mất lực đà, còn hai con heo đã biến địa hình thành lợi thế phòng thủ”. Alex vừa dứt lời thì tròng kính Gable Glass bỗng rung lên từng đợt dồn dập: RADAR ALERT: METALLIC SIGNATURE DETECTED. 250M SOUTH-EAST.
“关键是地形、时机,还有看穿强者的弱点。老虎单体杀伤力强得多,但泥地夺走了它的冲势,而两头野猪却把地形变成了防守优势。”亚历克斯话音刚落,Gable Glass 镜片忽然急促震动起来:RADAR ALERT: METALLIC SIGNATURE DETECTED. 250M SOUTH-EAST.
“중요한 건 지형과 타이밍, 그리고 더 강한 상대의 약점을 아는 거야. 호랑이는 개체의 공격력은 훨씬 강했지만 진흙 때문에 추진력을 잃었고, 두 멧돼지는 그 지형을 방어상의 이점으로 바꿨어.” 알렉스의 말이 끝나자마자 Gable Glass 렌즈가 빠르게 진동하기 시작했다. RADAR ALERT: METALLIC SIGNATURE DETECTED. 250M SOUTH-EAST.
Beneath the muddy water of the creek, the metallic signal remained motionless. It lay downstream, near the point where the narrow channel opened into a larger branch of the river. Through the dark brown silt, the Gable Glass could resolve only the faint outline of a long, low metal object, half submerged and half stuck in the mud.
Dưới mặt nước đục ngầu của con lạch, tín hiệu kim loại không di chuyển. Nó nằm im ở phía hạ lưu, gần nơi con lạch mở ra một nhánh sông lớn hơn. Qua lớp phù sa nâu sẫm, Gable Glass chỉ dựng được một đường viền mờ của một khối kim loại dài, thấp, nửa chìm nửa mắc ở mép bùn.
浑浊溪水下方,那个金属信号一动不动。它位于下游,靠近小溪汇入更宽河道的地方。隔着深褐色的泥沙,Gable Glass 只能勉强勾勒出一个细长、低矮的金属物体轮廓,一半浸在水里,一半陷在泥边。
탁한 개울물 아래에서 금속 신호는 움직이지 않았다. 하류 쪽, 좁은 물길이 더 큰 강줄기로 이어지는 지점 가까이에 있었다. 짙은 갈색 퇴적물 너머로 Gable Glass가 잡아낸 것은 길고 낮은 금속 물체의 희미한 윤곽뿐이었다. 절반은 물에 잠기고, 절반은 진흙 가장자리에 박혀 있었다.
P7
CHAPTER 2 MẮT XÍCH CỦA KẺ SĂN MỒI
PAGE 8 / 62
"An alien toy submarine?" Jack stared wide-eyed at the glowing point on his lenses. Alex enlarged the scan. The reflection pattern across the hull made him freeze. "No. This alloy looks like the Cyber Van... but its shape has changed."
“Tàu ngầm đồ chơi của người ngoài hành tinh hả?” Jack trố mắt nhìn điểm sáng trên kính. Alex phóng lớn ảnh quét. Những đường phản xạ trên lớp vỏ khiến cậu khựng lại. “Không. Hợp kim này giống Cyber Van… nhưng hình dáng đã đổi.”
“外星人的玩具潜艇?”杰克瞪大眼睛盯着镜片上的亮点。亚历克斯放大扫描图。外壳上的反射纹路让他猛地一怔。“不。这种合金和 Cyber Van 很像……可外形变了。”
“외계인 장난감 잠수함인가?” 잭이 렌즈 위의 빛나는 점을 눈을 크게 뜨고 바라봤다. 알렉스가 스캔 화면을 확대했다. 선체 표면의 반사 패턴을 보는 순간 그가 굳어졌다. “아니야. 이 합금은 Cyber Van이랑 비슷해… 그런데 형태가 바뀌었어.”
He pulled Jack along after the signal. "If it really is another form of the van, it may still have travel data—or at least tell us where we're supposed to go. Let's check it before something else finds it." The boys ducked low and hurried beneath curtains of tangled vines that hung like giant spiderwebs.
Cậu kéo Jack đi theo tín hiệu. “Nếu nó thật sự là một biến thể của chiếc xe, nó có thể còn giữ dữ liệu hành trình — hoặc ít nhất cho tụi mình biết phải đi đâu. Đi xem trước khi có thứ khác tìm thấy nó.” Hai đứa trẻ cắm đầu cắm cổ chạy rạp người dưới những tán dây leo chằng chịt như mạng nhện.
他拉着杰克沿信号方向前进。“如果它真是那辆车的另一种形态,也许还保存着行程数据——至少能告诉我们接下来该往哪儿走。趁别的东西发现它之前,先过去看看。”两个男孩压低身体,在像巨型蜘蛛网般垂落的纠结藤蔓下匆匆穿行。
알렉스는 잭을 끌고 신호를 따라갔다. “정말 그 차의 다른 형태라면 이동 기록이 남아 있을 수도 있어. 최소한 우리가 어디로 가야 하는지는 알려 주겠지. 다른 뭔가가 먼저 찾아내기 전에 확인하자.” 두 아이는 거대한 거미줄처럼 늘어진 뒤엉킨 덩굴 아래로 몸을 낮춘 채 서둘러 움직였다.
The ground was slick as grease, and Jack nearly lost his footing several times. But excitement pushed the exhaustion from their minds; both boys kept their eyes fixed on the blinking green signal on their smart lenses. That distraction made Jack the perfect target. CRACK! A dead branch snapped above his head.
Mặt đất trơn như bôi mỡ khiến Jack trượt chân suýt ngã mấy lần. Nhưng sự hồi hộp khiến hai đứa quên cả mệt mỏi, mắt chỉ mải miết dán vào đốm tín hiệu xanh lục nhấp nháy trên màn hình kính thông minh. Và chính sự mất tập trung đó đã biến Jack thành mục tiêu hoàn hảo. RẮC! Một cành cây khô gãy vụn phía trên đỉnh đầu.
地面滑得像抹了油,杰克好几次差点摔倒。可兴奋让两个人忘了疲惫,视线始终黏在智能镜片上不断闪烁的绿色信号点。正是这份分心,让杰克成了完美的目标。咔嚓!头顶一根枯枝突然断裂。
땅은 기름칠한 듯 미끄러워 잭이 몇 번이나 넘어질 뻔했다. 하지만 흥분한 두 아이는 피로도 잊고 스마트 렌즈 위에서 깜빡이는 초록색 신호만 바라봤다. 바로 그 방심이 잭을 완벽한 표적으로 만들었다. 우지끈! 머리 위의 마른 가지가 부러졌다.
P8
CHAPTER 2 MẮT XÍCH CỦA KẺ SĂN MỒI
PAGE 9 / 62
There was no whistle of air—only a huge, heavy mass of cold muscle dropping from a low branch. Before Jack could shout a warning, a giant reticulated python nearly five meters long, its body as thick as an adult man's thigh, had wrapped itself completely around his legs.
Không có một tiếng gió rít, chỉ có một khối cơ bắp khổng lồ, nặng trịch và lạnh ngắt rơi thẳng từ trên cành cây sà thấp xuống. Trước khi Jack kịp hét lên một tiếng cảnh báo, một con trăn gấm khổng lồ dài gần năm mét, thân to bằng bắp đùi người lớn, đã quấn trọn lấy hai chân cậu.
没有破风声,只有一团巨大、沉重、冰冷的肌肉从低垂的树枝上直坠而下。杰克还没来得及发出警告,一条近五米长的巨大网纹蟒已经缠住他的双腿,蛇身粗得几乎和成年人的大腿一样。
바람 가르는 소리조차 없었다. 거대하고 무겁고 차가운 근육 덩어리가 낮게 늘어진 가지에서 그대로 떨어져 내렸을 뿐이었다. 잭이 경고를 외치기도 전에 길이가 거의 5미터에 이르고 몸통이 성인 남성 허벅지만큼 굵은 거대한 그물무늬비단뱀이 그의 두 다리를 완전히 감아 버렸다.
The violent pull slammed Jack flat on his back onto the damp carpet of dead leaves. In an instant, two coils as tight as steel hawsers locked around his waist and rib cage. "Aaaah! Alex! Help me! This rope... it's breathing!" Jack screamed, his voice cracking as his hands clawed frantically at the muddy ground.
Lực kéo khủng khiếp quật ngã Jack ngửa bàn cuốc xuống thảm lá mục ẩm ướt. Chỉ trong chớp mắt, hai vòng siết chắc như dây chão thép đã khóa chặt lấy hông và lồng ngực cậu bé. “Á á á! Alex! Cứu tao! Cái dây thừng này… nó biết thở!” Jack gào lên lạc giọng, hai tay cào cấu điên cuồng vào lớp đất bùn.
恐怖的拉力把杰克仰面摔进湿漉漉的腐叶层里。转眼之间,两圈像钢缆般结实的蛇身就锁住了他的腰和胸腔。“啊啊啊!亚历克斯!救我!这根绳子……它会呼吸!”杰克喊得嗓子都变了调,双手疯狂抓挠着泥地。
엄청난 힘이 잭을 뒤로 잡아당겨 축축한 낙엽 위에 벌렁 넘어뜨렸다. 순식간에 강철 밧줄처럼 단단한 두 겹의 몸통이 허리와 가슴을 조여 왔다. “아아악! 알렉스! 살려 줘! 이 밧줄… 숨을 쉬어!” 잭은 목소리가 갈라지도록 비명을 지르며 두 손으로 미친 듯이 진흙바닥을 긁었다.
The monkeys in the surrounding mangroves began bouncing wildly, smacking branches and shrieking like an overexcited crowd at a wrestling match. Alex spun around in panic. Jack was being crushed, his face turning purple as the coils tightened. Alex snatched up a rotten branch as thick as his arm, rushed in, and hammered at the python's head. The rotten wood snapped with a sharp crack.
Đám khỉ trên ngọn cây đước xung quanh bắt đầu nhảy cẫng lên, đập cành chan chát và hú hét như một đám khán giả quá khích đang xem đấu vật biểu diễn. Alex hoảng hốt quay ngoắt lại. Nhìn thấy bạn mình đang bị bóp nghẹt, máu dồn lên mặt tím tái, Alex nhặt vội một cành gỗ mục to bằng bắp tay, lao tới đập điên cuồng vào đầu con trăn. RẮP!
周围红树林里的猴群顿时疯狂跳动,啪啪拍打树枝,尖叫得像一群看职业摔跤看疯了的观众。亚历克斯惊慌地猛然转身。杰克正被越勒越紧,脸已经憋得发紫。亚历克斯抄起一根和手臂一样粗的朽木枝冲过去,拼命砸向巨蟒的头。咔嚓!朽木应声断裂。
주변 맹그로브 위의 원숭이들이 갑자기 날뛰기 시작했다. 가지를 탁탁 두드리고 프로레슬링에 열광한 관중처럼 소리를 질렀다. 알렉스가 놀라 몸을 홱 돌렸다. 잭은 점점 더 강하게 조여 오르는 몸통에 짓눌려 얼굴이 보랏빛으로 변하고 있었다. 알렉스는 팔뚝만 한 썩은 나뭇가지를 집어 들고 달려들어 비단뱀의 머리를 미친 듯이 내리쳤다. 우지끈! 썩은 가지가 부러졌다.
P9
CHAPTER 2 MẮT XÍCH CỦA KẺ SĂN MỒI
PAGE 10 / 62
The branch broke in half. The giant reptile's smooth scales and rolling bands of muscle barely reacted. Worse, every time Jack gasped out a breath in panic, the python tightened another fraction through its natural constricting reflex. "Stop fighting it, Jack! The more you struggle, the tighter it squeezes!" Alex shouted, sweat pouring down his face.
Cành cây gãy đôi. Lớp da vảy trơn láng và khối cơ bắp cuồn cuộn của loài bò sát khổng lồ chẳng hề mảy may suy suyển. Tệ hơn nữa, mỗi khi Jack thở hắt ra trong cơn hoảng loạn, con trăn lại siết chặt thêm một nấc theo cơ chế phản xạ sinh học tự nhiên. “Đừng gồng nữa Jack! Mày càng giãy nó càng siết chặt hơn!” Alex hét to, mồ hôi vã ra như tắm.
树枝断成两截。巨蛇光滑的鳞片和滚动的肌肉几乎毫无反应。更糟的是,杰克每在恐慌中呼出一口气,蟒蛇就会凭借天然的缠杀反射再收紧一点。“别再用力挣了,杰克!你越挣扎,它勒得越紧!”亚历克斯大喊,汗水像雨一样顺着脸往下淌。
나뭇가지가 두 동강 났다. 거대한 파충류의 매끈한 비늘과 꿈틀대는 근육은 거의 꿈쩍도 하지 않았다. 더 나쁜 건 잭이 공포에 질려 숨을 내쉴 때마다 비단뱀이 본능적인 조임 반사로 조금씩 더 세게 감아 온다는 점이었다. “버티려고 힘주지 마, 잭! 몸부림칠수록 더 세게 조여!” 알렉스가 온몸에 땀을 흘리며 소리쳤다.
In that breathless moment, Alex realized that human strength could not compete with millions of years of predator evolution. He ripped off his tech backpack, pulled out the rugged military iPad, and slammed the emergency hardware key. "Activate Voice Chat AI Mentor! Identify giant-reptile behavior! Emergency!" he shouted into the microphone. A faint blue three-dimensional glow sprang to life.
Trong khoảnh khắc nghẹt thở ấy, Alex nhận ra sức người không thể đọ lại hàng triệu năm tiến hóa của kẻ săn mồi. Cậu giật phăng chiếc ba lô công nghệ, lôi chiếc iPad quân sự ra và ấn mạnh vào phím cứng khẩn cấp. “Bật Voice Chat AI Mentor! Nhận diện hành vi bò sát khổng lồ! Khẩn cấp!” Alex gào vào micro. Một luồng sáng xanh ba chiều mờ ảo bừng lên.
在那令人窒息的一刻,亚历克斯终于明白,人类的蛮力不可能和捕食者数百万年的进化抗衡。他猛地扯下科技背包,掏出军规级 iPad,用力按下紧急硬件键。“启动 Voice Chat AI Mentor!识别大型爬行动物行为!紧急情况!”他对着麦克风大喊。一道淡蓝色的三维光影随即亮起。
숨 막히는 그 순간, 알렉스는 인간의 힘만으로는 포식자가 수백만 년 동안 진화시켜 온 능력을 이길 수 없다는 걸 깨달았다. 그는 테크 배낭을 거칠게 벗어 군용 규격 iPad를 꺼내고 비상 하드웨어 키를 세게 눌렀다. “Voice Chat AI Mentor 실행! 대형 파충류 행동 식별! 긴급 상황!” 그가 마이크에 외치자 희미한 푸른색 3차원 빛이 켜졌다.
A holographic portrait of Dr. Jane Goodall appeared, wearing the calm, warm but authoritative expression of a seasoned field scientist. "Stay calm, Alex. A constrictor isn't acting out of hatred. It responds to the prey's heartbeat and muscular pressure. Trying to overpower a forty-kilogram bundle of muscle is a very bad calculation."
Chân dung hình chiếu của Tiến sĩ Jane Goodall hiện lên với nụ cười điềm tĩnh, ấm áp nhưng đầy uy quyền của một nhà khoa học thực địa lão luyện: “Bình tĩnh nào Alex. Trăn siết mồi không có sự thù hận, nó chỉ phản ứng thuần túy theo nhịp tim và áp lực co cơ của con mồi. Cố dùng sức bẻ một bó cơ nặng bốn mươi cân là một tính toán vô cùng sai lầm”.
珍·古道尔博士的全息影像出现了。她脸上带着一位资深野外科学家特有的平静、温和却不容置疑的神情。“冷静,亚历克斯。蟒蛇缠杀猎物并不是出于仇恨,它只是根据猎物的心跳和肌肉压力作出本能反应。想靠蛮力掰开一团四十公斤重的肌肉,是非常糟糕的计算。”
제인 구달 박사의 홀로그램 초상이 나타났다. 오랜 현장 경험을 지닌 과학자답게 차분하고 따뜻하면서도 단호한 표정이었다. “진정해, 알렉스. 비단뱀이 먹잇감을 조이는 건 증오해서가 아니야. 먹잇감의 심장 박동과 근육 압력에 본능적으로 반응하는 거지. 40킬로그램짜리 근육 덩어리를 힘으로 억지로 풀어내려는 건 아주 잘못된 계산이란다.”
P10
CHAPTER 2 MẮT XÍCH CỦA KẺ SĂN MỒI
PAGE 11 / 62
"But my friend is about to suffocate!" Alex cried, pointing at Jack's bulging eyes. "Redirect its attention. Ambush predators depend on highly sensitive heat receptors and vibration sensing. Overload those senses, and self-preservation will immediately override the hunting response. Don't fight its strength—change the rules of the encounter."
“Nhưng bạn cháu sắp tắt thở rồi cô ơi!” Alex chỉ vào Jack đang trợn tròn mắt. “Hãy chuyển hướng sự chú ý của nó. Động vật săn mồi phục kích hoạt động dựa trên các cơ quan thụ cảm nhiệt và cảm nhận rung động cực kỳ nhạy bén. Làm quá tải các giác quan đó, bản năng tự vệ sẽ lập tức đè bẹp bản năng săn mồi. Đừng đấu sức, hãy đổi luật chơi”.
“可我朋友快喘不过气了!”亚历克斯指着眼睛都快瞪出来的杰克喊道。 “把它的注意力引开。伏击型捕食者依赖极其敏锐的热感受器和振动感知。让这些感觉器官过载,求生本能就会立刻压过捕猎反应。别和它比力气——改变这场遭遇的规则。”
“하지만 제 친구가 숨이 막혀 죽을 것 같아요!” 알렉스가 눈이 휘둥그레진 잭을 가리키며 외쳤다. “주의를 다른 곳으로 돌려. 매복형 포식자는 아주 민감한 열 감지 기관과 진동 감각에 의존해. 그 감각을 과부하시키면 자기보존 본능이 사냥 반응을 바로 눌러 버릴 거야. 힘으로 맞서지 말고, 이 상황의 규칙을 바꾸렴.”
The lesson of the tiger and the two wild boars flashed through Alex's mind: change the environmental conditions and neutralize the opponent's advantage. He immediately detached the narrow-spectrum rescue laser mounted on his smart watch.
Bài học về con hổ và hai con heo rừng bùng cháy trong tâm trí Alex: thay đổi điều kiện môi trường để triệt tiêu ưu thế của đối thủ! Alex lập tức tháo chiếc đèn laser cứu hộ quang phổ hẹp gắn trên đồng hồ thông minh.
老虎和两头野猪的那一幕猛地在亚历克斯脑中闪过:改变环境条件,削掉对手的优势!他立刻从智能手表上拆下那支窄谱救援激光器。
호랑이와 두 멧돼지의 장면이 알렉스의 머릿속을 번쩍 스쳤다. 환경 조건을 바꿔 상대의 강점을 무력화하라! 그는 즉시 스마트워치에 달린 협대역 구조용 레이저를 떼어 냈다.
He did not shine it at random. Switching the pulse frequency to its highest setting, Alex aimed the rapid strobing beam directly at the heat-sensing pits along the python's upper lip. At the same time, he scooped up a handful of wet mud mixed with pungent, oily leaf litter and smeared it hard across the animal's nose and eyes.
Cậu không chiếu bừa bãi. Chuyển tần số nhấp nháy sang mức cao nhất, Alex rọi thẳng luồng ánh sáng chớp giật liên hồi vào vùng hốc thụ cảm nhiệt nằm ngay sát viền môi trên của con trăn. Đồng thời, cậu nhặt một vốc bùn nhão trộn đầy lá mục có mùi tinh dầu hăng hắc trét mạnh vào vùng mũi và mắt con vật.
他没有胡乱照射。亚历克斯把闪烁频率调到最高,直接将快速脉冲光束对准蟒蛇上唇边缘的热感凹窝。同时,他抓起一把混着腐叶、带着刺鼻油性气味的湿泥,用力抹到蛇的鼻部和眼睛上。
그는 아무 데나 빛을 쏘지 않았다. 알렉스는 점멸 주파수를 최고로 올린 뒤 비단뱀 윗입술 가장자리에 있는 열감지 구멍을 향해 빠르게 깜빡이는 광선을 정확히 비췄다. 동시에 매캐한 기름 냄새가 나는 썩은 잎이 섞인 젖은 진흙을 한 움큼 떠서 뱀의 코와 눈에 세게 문질렀다.
P11
CHAPTER 2 MẮT XÍCH CỦA KẺ SĂN MỒI
PAGE 12 / 62
The blinding flashes overwhelmed its vision. Localized heat scrambled its heat-sensing pits, and the sharp unfamiliar odor added another layer of sensory confusion. Together, the signals hit the python's nervous system like a massive data overload.
Ánh sáng chói lòa làm tê liệt thị giác, nhiệt lượng cục bộ làm nhiễu loạn hoàn toàn các hốc cảm biến nhiệt, cộng thêm mùi lạ nồng nặc khiến hệ thần kinh của con trăn bị sốc dữ liệu nặng nề.
刺眼的闪光压垮了它的视觉,局部热量扰乱了热感凹窝,陌生而强烈的气味又添上一层感官混乱。多重刺激叠加,像一场巨大的数据过载猛砸进蟒蛇的神经系统。
눈부신 섬광이 시각을 압도했고, 국소적인 열이 열감지 기관을 교란했다. 거기에 강하고 낯선 냄새까지 더해지며 감각은 더욱 혼란스러워졌다. 여러 자극이 한꺼번에 밀려들자 비단뱀의 신경계는 거대한 데이터 과부하를 맞은 것처럼 흔들렸다.
The animal sensed that its surroundings had suddenly become dangerously hostile and that its prey had turned into a source of painful stimulation. Survival instinct told it to retreat. The coils slowly loosened. The python hissed out a foul breath, released Jack, then slid backward through the mud and vanished beneath the creek.
Nhận thấy môi trường xung quanh biến đổi quá nguy hiểm và con mồi bỗng nhiên biến thành một nguồn kích thích độc hại, bản năng sinh tồn mách bảo nó phải rút lui. Các vòng cơ siết từ từ nới lỏng. Con trăn phì phì thở ra một luồng khí hôi hám, buông Jack ra rồi trườn giật lùi, trượt thoăn thoắt xuống lớp bùn lầy rồi lặn mất tăm dưới con lạch.
周围环境突然变得危险,而猎物也像变成了痛苦刺激的源头。求生本能告诉它必须撤退。紧勒的蛇身一点点松开。巨蟒嘶嘶吐出一股难闻的气息,放开杰克,随后倒退着滑过泥地,转眼便没入小溪之中。
주변 환경이 갑자기 위험하게 변했고 먹잇감 자체도 고통스러운 자극원이 되어 버렸다. 생존 본능은 물러나라고 명령했다. 단단히 조이던 몸통이 서서히 풀렸다. 비단뱀은 역한 숨을 쉭쉭 내뿜으며 잭을 놓아 주더니 진흙 위를 뒤로 미끄러져 내려가 순식간에 개울 아래로 사라졌다.
Jack lay flat on the dry leaves, clutching his ribs and dragging precious mouthfuls of air into his lungs. "Cough... cough... Oh, man... I swear, when we get home, I'm unfriending everyone who wears snakeskin... and I'm never eating pigs in a blanket again..."
Jack nằm ngửa trên đống lá khô, hai tay ôm chặt lấy xương sườn, hít từng ngụm không khí quý giá vào buồng phổi: “Khụ… khụ… Ôi mẹ ơi… Tao thề… sau chuyến này về nhà, tao sẽ hủy kết bạn với tất cả những ai mặc áo da trăn… và tao sẽ không bao giờ ăn món xúc xích cuốn nữa…”
杰克仰躺在干叶堆上,双手死死抱着肋骨,一口一口把宝贵的空气吸进肺里。“咳……咳……我的天……我发誓……等回到家,我要把所有穿蛇皮衣的人都删好友……我这辈子也再也不吃培根裹小香肠了……”
잭은 마른 낙엽 위에 벌렁 누운 채 두 손으로 갈비뼈를 꼭 감싸고 귀한 공기를 한 모금씩 폐로 끌어들였다. “콜록… 콜록… 세상에… 맹세하는데… 집에 돌아가면 뱀가죽 입는 사람은 전부 친구 삭제할 거야… 그리고 베이컨 말이 소시지는 다시는 안 먹어…”
P12
CHAPTER 2 MẮT XÍCH CỦA KẺ SĂN MỒI
PAGE 13 / 62
"Get up, tough guy," Alex said, breathing out in relief as he offered Jack a hand. "Dr. Goodall just taught you an expensive lesson: smart people don't race cheetahs, and they definitely don't get into squeezing contests with pythons." Jack leaned on Alex's shoulder and limped onward. They crossed the last line of mangroves, and suddenly the world opened wide before them.
“Đứng dậy đi ông tướng,” Alex thở phào đánh thót một cái, chìa tay kéo bạn dậy. “Tiến sĩ Goodall vừa dạy mày một bài học đắt giá đấy: kẻ thông minh không bao giờ thi chạy với báo, cũng không bao giờ thi bóp với trăn”. Jack bám vào vai Alex, tập tễnh bước tiếp. Hai đứa vượt qua rặng đước cuối cùng, và trước mắt chúng, không gian bỗng mở toang ra rực rỡ.
“起来吧,硬汉。”亚历克斯终于松了口气,伸手把杰克拉起来。 “古道尔博士刚给你上了堂代价不小的课:聪明人不会和猎豹赛跑,也绝不会和蟒蛇比谁更会勒。”杰克扶着亚历克斯的肩,一瘸一拐继续往前。他们穿过最后一片红树林,眼前的天地忽然豁然开朗。
“일어나, 강철 사나이.” 알렉스는 안도의 숨을 내쉬며 손을 내밀어 잭을 일으켰다. “구달 박사님이 방금 값비싼 교훈을 하나 가르쳐 주셨네. 똑똑한 사람은 치타랑 달리기 시합도 안 하고, 비단뱀이랑 조이기 시합은 더더욱 안 해.” 잭은 알렉스의 어깨에 기대 절뚝거리며 걸었다. 마지막 맹그로브 숲을 빠져나가자 눈앞의 세상이 갑자기 탁 트였다.
A broad river rolled toward the horizon, its reddish water heavy with silt. On the gently sloping sandbar beside it lay a strange machine, tilted half on land and half in the water. The bulky Cyber Van they remembered had retracted all four wheels into recesses inside its body.
Một con sông lớn mênh mông cuồn cuộn sóng đỏ nặng hạt phù sa đang trải dài ngút tầm mắt. Và ngay bên bờ cát bồi thoai thoải, một cỗ máy kỳ lạ đang nằm nghiêng nửa trên cạn nửa dưới nước. Chiếc Cyber Van cồng kềnh ngày nào đã thu gọn toàn bộ bốn bánh xe vào trong hốc thân tàu.
一条宽阔的大河向地平线延伸,泛红的水里满是沉重泥沙。缓缓倾斜的沙洲边,一台奇怪的机器斜躺着,一半在岸上,一半浸在水里。那辆他们熟悉的笨重 Cyber Van,四个轮子已经全部收进了车身凹槽。
넓은 강이 지평선까지 뻗어 있었고, 붉은빛 강물은 진한 퇴적물을 잔뜩 머금은 채 출렁였다. 완만한 모래톱 옆에는 낯선 기계 하나가 기울어진 채 반은 육지에, 반은 물에 걸쳐 있었다. 익숙한 육중한 Cyber Van은 네 바퀴를 모두 차체 안쪽 홈으로 접어 넣은 상태였다.
Its silver-gray titanium hull had stretched into a sleek, perfectly streamlined teardrop shape, while cyan LED lines glowed along both sides and shimmered across the silty water. At the stern, the water-jet propulsion system gave off a soft, rhythmic whine. The vehicle had transformed into a craft built to skim the surface: the Cyber Boat!
Thân vỏ titan xám bạc kéo dài ra thành một hình giọt nước khí động học hoàn hảo, đường viền đèn LED xanh ngọc (cyan) chạy dọc hai bên lườn tàu phát sáng lung linh phản chiếu trên mặt nước phù sa. Hệ thống đẩy phản lực nước phía đuôi tàu đang khẽ rít lên những nhịp tuần hoàn êm ái. Nó đã lột xác thành một chiếc phi thuyền lướt nước: Cyber Boat!
银灰色钛合金外壳被拉长成流畅而完美的水滴形,青色 LED 光带沿着船身两侧发亮,在浑浊河面上投下闪烁倒影。船尾的喷水推进系统发出轻柔而有节奏的低鸣。它已经蜕变成一艘贴水疾驰的未来载具——Cyber Boat!
은회색 티타늄 선체는 매끈하고 완벽한 물방울 형태로 길게 뻗어 있었다. 양쪽 선체를 따라 시안색 LED 라인이 빛났고, 흙빛 강물 위에 반짝이는 잔상이 비쳤다. 선미의 워터제트 추진 시스템에서는 부드럽고 규칙적인 윙윙거림이 들렸다. 그것은 수면을 미끄러지듯 달리는 미래형 선박, Cyber Boat로 변신해 있었다!
P13
CHAPTER 3 CON TÀU KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG Ở ĐÂU
PAGE 14 / 62
"I take back every complaint I ever made about your dad's old camping van," Jack said, eyes huge and mouth hanging open as he forgot the ache in his ribs. He rushed forward and ran a hand over the vessel's smooth, cool metal skin. "This... this is a billion times cooler than Batman's Batmobile!"
“Tao rút lại tất cả những lời phàn nàn về cái xe cắm trại cũ của bố mày,” Jack trố tròn hai mắt, miệng há hốc, quên phao cả cơn đau nhức ở mạn sườn. Cậu chạy ào tới, đưa tay xoa nhẹ lên lớp vỏ kim loại nhẵn bóng, mát lạnh của con tàu. “Cái này… cái này ngầu hơn chiếc Batmobile của người dơi cả tỷ lần!”
“我收回以前对你爸那辆旧露营车说过的所有坏话。”杰克瞪大眼睛,嘴巴都合不拢,连肋骨的疼都忘了。他冲上前,伸手摸了摸船体光滑、冰凉的金属外壳。“这……这比蝙蝠侠的蝙蝠车酷十亿倍!”
“네 아빠 낡은 캠핑 밴 욕했던 거 전부 취소할게.” 잭은 눈을 크게 뜨고 입을 벌린 채 갈비뼈 통증도 잊었다. 그는 앞으로 달려가 매끈하고 차가운 금속 선체를 손으로 쓸어 보았다. “이건… 이건 배트맨의 배트모빌보다 십억 배는 더 멋져!”
"Careful. Don't start pressing random things," Alex warned as he stepped aboard. The owner-recognition sensor swept across the lenses of Alex's Gable Glass. The dark-tinted canopy slid upward in perfect silence. The boys climbed into the cockpit, a minimalist futuristic space that felt more like the flight deck of a spacecraft than the inside of a boat.
“Cẩn thận, đừng bấm lung tung,” Alex bước lên theo. Cảm biến nhận diện chủ nhân quét qua tròng kính Gable Glass của Alex. Cánh cửa vòm canopy bằng kính sẫm màu trượt mở lên trên êm ru không một tiếng động cơ học. Hai đứa trẻ chui vào khoang lái. Bên trong buồng lái là một không gian tối giản đậm chất viễn tưởng gợi cảm giác của một buồng lái phi thuyền.
“小心点,别乱按东西。”亚历克斯一边上船一边提醒。主人识别传感器扫过他 Gable Glass 的镜片。深色玻璃 canopy 舱盖悄无声息地向上滑开。两个男孩钻进驾驶舱,里面极简而充满未来感,更像一艘飞船的驾驶舱,而不是普通船舱。
“조심해. 아무거나 누르지 마.” 알렉스가 올라타며 경고했다. 소유자 인식 센서가 그의 Gable Glass 렌즈를 훑었다. 어두운 색의 유리 canopy가 기계음 하나 없이 위로 미끄러져 열렸다. 두 아이가 조종석 안으로 들어가자 미니멀하면서도 미래적인 공간이 펼쳐졌다. 배 안이라기보다 우주선 조종실에 가까웠다.
All the cluttered mechanical buttons were gone. In their place, a panoramic touch display curved from the left side of the cockpit to the right. Soft cyan light spilled from LED strips along the edges, giving the cabin a feeling that was both reassuring and mysterious.
Toàn bộ các nút bấm cơ học rối rắm đã biến mất, thay vào đó là một màn hình cảm ứng toàn cảnh (panoramic) uốn cong trải dài từ mạn trái sang mạn phải buồng lái. Ánh sáng xanh cyan dịu mát tỏa ra từ các dải LED viền, tạo cảm giác vừa an toàn vừa huyền bí.
那些杂乱的机械按钮全部消失了,取而代之的是一块从驾驶舱左侧一直弯曲延伸到右侧的全景触控屏。边缘 LED 灯带散发柔和的青色光芒,让整个舱室既令人安心,又带着一丝神秘。
복잡하게 늘어서 있던 기계식 버튼은 모두 사라졌다. 대신 조종석 왼쪽에서 오른쪽까지 휘어 이어지는 파노라마 터치 디스플레이가 자리 잡고 있었다. 가장자리 LED 스트립에서 부드러운 시안색 빛이 흘러나와 조종실 전체에 안도감과 신비로움을 동시에 더했다.
P14
CHAPTER 3 CON TÀU KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG Ở ĐÂU
PAGE 15 / 62
But at the very center of the command display, a giant question mark flashed over and over: CHRONO-DATABASE: CORRUPTED. CURRENT COORDINATES: LATITUDE/LONGITUDE UNVERIFIED. YEAR / ERA: UNKNOWN. LOCAL ENVIRONMENT: FRESHWATER ESTUARY SYSTEM. "It still has no idea what time period we're in," Alex muttered, sweeping his fingers across the touchscreen to reconfigure the power system.
Tuy nhiên, ngay giữa trung tâm màn hình chỉ huy, một biểu tượng dấu chấm hỏi to tướng nhấp nháy liên hồi: CHRONO-DATABASE: CORRUPTED. CURRENT COORDINATES: LATITUDE/LONGITUDE UNVERIFIED. YEAR / ERA: UNKNOWN. LOCAL ENVIRONMENT: FRESHWATER ESTUARY SYSTEM. “Nó vẫn mù tịt về thời gian,” Alex lẩm bẩm, ngón tay lướt nhanh trên mặt kính cảm ứng để tái lập cấu hình hệ thống năng lượng.
不过,指挥屏正中央一个巨大的问号图标不断闪烁:CHRONO-DATABASE: CORRUPTED. CURRENT COORDINATES: LATITUDE/LONGITUDE UNVERIFIED. YEAR / ERA: UNKNOWN. LOCAL ENVIRONMENT: FRESHWATER ESTUARY SYSTEM. “它还是完全不知道我们现在处于哪个时代。”亚历克斯低声说道,手指飞快划过触控屏,重新配置能源系统。
하지만 지휘 화면 한가운데에는 거대한 물음표 아이콘이 계속 깜빡이고 있었다. CHRONO-DATABASE: CORRUPTED. CURRENT COORDINATES: LATITUDE/LONGITUDE UNVERIFIED. YEAR / ERA: UNKNOWN. LOCAL ENVIRONMENT: FRESHWATER ESTUARY SYSTEM. “여전히 우리가 어느 시대에 있는지 전혀 모르네.” 알렉스가 중얼거리며 터치스크린 위로 손가락을 빠르게 움직여 동력 시스템을 재설정했다.
"But at least the hydrogen fuel-cell system and the water turbines are still operating at ninety percent." "Then what are we waiting for? Start her up, Captain!" Jack dropped excitedly into the passenger seat and clicked the four-point harness into place. Alex touched the virtual START icon. A soft whine rose from beneath the hull.
“Nhưng ít nhất thì hệ thống pin nhiên liệu hydro và turbine nước vẫn hoạt động ở mức chín mươi phần trăm”. “Thế thì còn chờ gì nữa? Khởi động đi thuyền trưởng!” Jack phấn khích ngồi thụp xuống ghế phụ, cài chốt dây an toàn bốn điểm kêu tách một tiếng giòn giã. Alex chạm nhẹ ngón tay vào biểu tượng phím ảo START. Một tiếng rít nhẹ vang lên dưới lườn tàu.
“不过至少氢燃料电池系统和水轮机还有百分之九十的工作效率。” “那还等什么?启动吧,船长!”杰克兴奋地跌坐进副驾驶座,咔嗒一声扣好四点式安全带。亚历克斯轻触虚拟 START 图标。船身下方传来一阵轻柔的嗡鸣。
“그래도 수소 연료전지 시스템이랑 수중 터빈은 아직 90퍼센트 수준으로 작동해.” “그럼 뭘 기다려? 출발하시죠, 선장님!” 잭은 신이 나서 조수석에 털썩 앉고 네 점식 안전벨트를 딸깍 잠갔다. 알렉스가 가상 START 아이콘을 가볍게 터치하자 선체 아래에서 부드러운 윙 소리가 올라왔다.
Two high-pressure jets of water burst from the stern, lifting the Cyber Boat's bow free of the mud and pushing it smoothly into the current. The speed increased so gently that Jack forgot his aching ribs. He cracked open an air vent and held out a hand to catch the cool river wind. He whooped with delight, and Alex laughed too, for the first time since they had fallen through the Gateway.
Hai luồng nước áp lực phụt ra từ phía đuôi, nâng mũi Cyber Boat khỏi bãi bùn rồi đẩy nó trượt ra giữa dòng. Tốc độ tăng lên êm đến mức Jack quên cả đau, mở hé khe thông gió rồi giơ tay đón luồng gió sông mát rượi. Cậu hú lên thích thú; Alex cũng bật cười, lần đầu tiên kể từ lúc rơi qua Gateway.
两股高压水流从船尾喷出,把 Cyber Boat 的船头从泥地里抬起,平稳推入主流。速度增加得极其顺滑,杰克甚至忘了肋骨还在疼。他打开一条通风缝,把手伸出去迎接凉爽的河风,兴奋地欢呼起来。亚历克斯也笑了——这是他们穿过 Gateway 之后,他第一次真正笑出声。
선미에서 두 줄기의 고압수가 뿜어져 나오며 Cyber Boat의 뱃머리를 진흙에서 들어 올려 강 한가운데로 부드럽게 밀어냈다. 속도가 너무 매끄럽게 올라 잭은 갈비뼈 통증도 잊었다. 그는 통풍구를 살짝 열고 손을 내밀어 시원한 강바람을 맞으며 신나게 환호했다. 알렉스도 웃었다. Gateway를 통과한 뒤 처음으로 터진 웃음이었다.
P15
CHAPTER 3 CON TÀU KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG Ở ĐÂU
PAGE 16 / 62
Their perfect little cruise lasted exactly two minutes. The moment they rounded a broad bend shaded by ancient trees, the scene ahead made Alex yank the throttle back. An entire stretch of the river was alive with activity, as busy as a vast construction site.
Nhưng niềm vui sướng tột độ của chuyến du ngoạn chỉ kéo dài được đúng hai phút. Vừa bo qua một khúc quanh lớn rợp bóng cây cổ thụ, cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến Alex phải vội vã kéo lùi cần ga. Cả một khúc sông rộng đang náo nhiệt như một công trường khổng lồ.
这趟完美的小小巡航只持续了整整两分钟。刚绕过一个被古树阴影覆盖的大弯道,前方景象就让亚历克斯立刻把油门往回拉。整整一大片河道热闹得像一个巨型工地。
완벽해 보이던 짧은 유람은 딱 2분 만에 끝났다. 오래된 나무 그늘이 드리운 넓은 굽이를 돌아서는 순간, 눈앞의 광경을 본 알렉스가 급히 스로틀을 뒤로 당겼다. 강 한 구간 전체가 거대한 공사장처럼 분주하게 움직이고 있었다.
Wooden boats, bamboo rafts, and woven skiffs crowded the water. Some people hauled timber, others carried provisions, and still others drove stakes into the riverbed. Rhythmic work chants echoed from bank to bank. Square banners marked with ancient characters snapped in the wind. Then, like a ripple spreading across the river, the entire scene suddenly fell silent.
Thuyền gỗ, bè tre và thuyền nan ken dày mặt nước; người kéo gỗ, người chở lương, người đóng cọc; tiếng hò nhịp vang từ bờ này sang bờ kia. Những lá cờ vuông mang chữ cổ phấp phới trên nền trời. Và rồi, như một hiệu ứng gợn sóng lan truyền, toàn bộ khúc sông bỗng nhiên rơi vào một sự im lặng tuyệt đối.
木船、竹筏和编织小艇挤满水面。有人拖运木材,有人搬送粮食,还有人在河床打桩。整齐有节奏的劳动号子从一岸传到另一岸,写着古老文字的方旗在风中猎猎作响。随后,像一道涟漪扩散开来,整片河道突然陷入绝对寂静。
목선과 대나무 뗏목, 엮어 만든 작은 배들이 수면을 빽빽하게 메우고 있었다. 누군가는 목재를 끌고, 누군가는 식량을 나르고, 또 다른 사람들은 강바닥에 말뚝을 박았다. 박자에 맞춘 작업 구호가 이쪽 강둑에서 저쪽까지 울려 퍼졌고, 옛 글자가 적힌 네모난 깃발들이 바람에 펄럭였다. 그러다 파문이 퍼지듯 강 전체가 갑자기 완전한 침묵에 잠겼다.
The work chants stopped. Hammers froze in mid-swing. Thousands of stunned eyes turned toward the gleaming silver metal monster racing across the surface without a single oar or sail, throwing up waves as it roared through the water.
Tiếng hò dô dừng bặt. Tiếng búa đóng cọc khựng lại trên không. Hàng ngàn ánh mắt sững sờ, kinh ngạc đổ dồn về phía con quái vật bằng kim loại sáng loáng màu bạc, không có lấy một mái chèo hay cánh buồm nào mà lại lướt băng băng trên mặt nước xé sóng gầm vang.
劳动号子戛然而止。高高举起的打桩锤停在半空。成千上万双震惊的眼睛齐刷刷望向那头闪着银光的金属怪物——没有一支桨,也没有一面帆,却轰鸣着劈开水面飞速前进。
일하던 구호가 뚝 끊겼다. 말뚝을 내리치던 망치가 공중에서 멈췄다. 수천 쌍의 놀란 눈이 일제히 은빛으로 번쩍이는 금속 괴물로 향했다. 노도 돛도 하나 없는데 물을 갈라 거대한 파도를 일으키며 빠르게 달리고 있었다.
P16
CHAPTER 3 CON TÀU KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG Ở ĐÂU
PAGE 17 / 62
"Alex..." Jack lowered his voice, his grin disappearing as he realized hundreds of people were staring at them. "I think this thing is going to be kind of hard to pass off as a fishing boat." Alex looked at the oars suspended in midstroke, then at the Cyber Boat's shining silver hull.
“Alex…” Jack hạ giọng, nụ cười biến mất khi nhận ra hàng trăm ánh mắt đang đổ dồn về phía họ. “Tao nghĩ cái tàu này hơi khó giả làm thuyền đánh cá.” Alex nhìn những mái chèo vừa dừng giữa nhịp, rồi nhìn lớp vỏ kim loại sáng bạc của Cyber Boat.
“亚历克斯……”杰克压低声音,发现几百双眼睛正盯着他们,脸上的笑容瞬间消失。“我看这东西想假装成渔船,难度有点大。”亚历克斯看了看那些停在半划中的船桨,又看了看 Cyber Boat 闪亮的银色船壳。
“알렉스…” 잭이 목소리를 낮췄다. 수백 쌍의 눈이 자신들을 향하고 있다는 걸 깨닫자 웃음이 사라졌다. “이걸 어선이라고 우기기는 좀 힘들 것 같은데.” 알렉스는 공중에서 멈춰 선 노들을 바라봤다가 Cyber Boat의 반짝이는 은빛 선체를 내려다봤다.
He did not need a time-travel rulebook to tell him they had attracted far too much attention; the reaction of everyone on the river made that obvious. "I'm turning us around right now!" Alex said, frantically tapping the controls. But fate had no intention of letting them retreat.
Không cần một quy tắc du hành thời gian nào nhắc nhở; phản ứng của những người trên sông cũng đủ cho cậu biết họ đã gây chú ý quá mức. “Tao đang cho tàu quay đầu đây!” Alex cuống cuồng chạm vào bảng điều khiển. Nhưng bánh xe định mệnh không cho phép chúng quay đầu.
根本不需要什么时间旅行守则提醒他——河上所有人的反应已经足够说明,他们引起的注意远远超过了安全范围。“我现在就让船掉头!”亚历克斯慌忙敲击控制面板。但命运显然并不打算让他们撤退。
시간여행 규칙책 따위는 필요도 없었다. 강 위 사람들의 반응만 봐도 자신들이 지나치게 눈에 띄었다는 게 분명했다. “지금 바로 배를 돌릴게!” 알렉스가 다급하게 조종판을 두드렸다. 하지만 운명은 그들이 물러나는 걸 허락할 생각이 없었다.
A shrill alarm suddenly screamed through the cockpit: ALERT! TEMPORAL DISTORTION ABOVE. HIGH-ENERGY CONVERGENCE DETECTED. The bright sky darkened in an instant, as if an invisible hand had covered the sun. Above the river, space itself split open into a black tear that glittered with a metallic sheen.
Còi báo động trong buồng lái đột ngột ré lên chói tai: ALERT! TEMPORAL DISTORTION ABOVE. HIGH-ENERGY CONVERGENCE DETECTED. Bầu trời đang nắng ráo bỗng tối sầm lại trong tích tắc như bị một bàn tay vô hình che khuất. Không gian phía trên mặt sông nứt toác ra một vết rách đen ngòm lấp lánh ánh kim loại.
驾驶舱里突然响起尖锐刺耳的警报:ALERT! TEMPORAL DISTORTION ABOVE. HIGH-ENERGY CONVERGENCE DETECTED. 原本明亮的天空瞬间暗了下来,仿佛有一只看不见的手遮住了太阳。河面上方,空间本身裂开了一道漆黑的口子,边缘闪着金属般的光。
조종석 안에서 갑자기 날카로운 경보음이 울려 퍼졌다. ALERT! TEMPORAL DISTORTION ABOVE. HIGH-ENERGY CONVERGENCE DETECTED. 환하던 하늘이 순식간에 어두워졌다. 보이지 않는 손이 태양을 가린 듯했다. 강 위에서는 공간 자체가 갈라지며 금속성 광택을 띤 검은 균열이 벌어졌다.
P17
CHAPTER 3 CON TÀU KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG Ở ĐÂU
PAGE 18 / 62
A dark sphere with the complex geometric structure of a NEXUS entity hovered in midair. There was no gunshot and no deafening explosion. Instead, a deep-purple gravitational pulse shot from the center of the sphere and plunged into the water beside the Cyber Boat's starboard side. The impact hit with a thunderous boom.
Một khối cầu bóng tối mang cấu trúc hình học phức tạp của thực thể NEXUS lơ lửng giữa không trung. Không có một phát súng hay tiếng nổ kinh hoàng nào. Chỉ có một chùm xung lực trọng trường màu tím sẫm phóng thẳng từ tâm khối cầu cắm ngập xuống mặt nước ngay sát mạn phải của tàu. ẦM!
一个具有 NEXUS 实体复杂几何结构的黑暗球体悬浮在半空中。没有枪响,也没有震耳欲聋的爆炸声。只有一道深紫色的重力脉冲从球体中心射出,猛地扎进 Cyber Boat 右舷旁的水面。轰!冲击声震耳欲聋。
NEXUS 개체 특유의 복잡한 기하 구조를 가진 어두운 구체가 허공에 떠 있었다. 총성도, 귀를 찢는 폭발음도 없었다. 대신 짙은 보랏빛 중력 펄스가 구체 중심에서 발사되어 Cyber Boat 우현 바로 옆 수면으로 꽂혔다. 쾅! 거대한 충격음이 터졌다.
A wall of water erupted beside the boat. The shock wave slammed sideways into the Cyber Boat, lifting it clear of the river and rolling it almost completely over before it crashed back down. Both safety harnesses bit hard into Alex's and Jack's shoulders as the cockpit shook with a deep metallic roar.
Một cột nước dựng lên sát mạn phải. Sóng xung kích đánh ngang thân Cyber Boat, nhấc bổng nó khỏi mặt nước rồi quật nghiêng gần trọn một vòng trước khi rơi xuống. Hai dây an toàn siết mạnh vào vai Alex và Jack; toàn bộ khoang lái rung lên trong tiếng kim loại rền đục. RẦM!
船旁猛然竖起一道水墙。冲击波横扫 Cyber Boat,把整艘船从河面上掀了起来,几乎翻了完整一圈,随后重重砸回水面。安全带狠狠勒进亚历克斯和杰克的肩膀,整个驾驶舱在低沉的金属轰鸣中剧烈震动。
배 옆에서 거대한 물기둥이 솟구쳤다. 충격파가 Cyber Boat의 옆구리를 때려 배를 수면 위로 들어 올렸고 거의 한 바퀴 뒤집힌 뒤 다시 거칠게 떨어뜨렸다. 안전벨트가 알렉스와 잭의 어깨를 세게 파고들었고, 조종석 전체가 낮고 둔중한 금속 굉음 속에서 흔들렸다.
The propulsion turbines coughed out a cloud of acrid black smoke. The central display flashed red in a frenzy: PROPULSION: OFFLINE. STEERING ACTUATORS: DAMAGED. CRITICAL FAILURE. Without thrust, the Cyber Boat coasted helplessly, plowed through a stand of reeds, and buried itself deep in the mud along the bank. Across the display, system after system turned red.
Hệ thống turbine đẩy phản lực phụt ra một đám khói đen khét lẹt. Màn hình trung tâm chớp đỏ điên loạn: PROPULSION: OFFLINE. STEERING ACTUATORS: DAMAGED. CRITICAL FAILURE. Mất lực đẩy, Cyber Boat trượt theo quán tính, cày qua một vạt lau sậy rồi mắc sâu vào bãi bùn ven bờ. Trên màn hình, nhiều hệ thống đồng loạt chuyển sang màu đỏ.
推进涡轮喷出一团刺鼻的黑烟。中央屏幕疯狂闪红:PROPULSION: OFFLINE. STEERING ACTUATORS: DAMAGED. CRITICAL FAILURE. 失去推力后,Cyber Boat 只能靠惯性滑行,冲过一大片芦苇,最后深深陷进岸边泥地。屏幕上一个又一个系统状态转成了红色。
추진 터빈에서 매캐한 검은 연기가 뿜어져 나왔다. 중앙 화면이 미친 듯 붉게 깜빡였다. PROPULSION: OFFLINE. STEERING ACTUATORS: DAMAGED. CRITICAL FAILURE. 추진력을 잃은 Cyber Boat는 관성에 떠밀려 갈대밭을 가로질러 미끄러진 뒤 강둑 진흙에 깊이 처박혔다. 화면에서는 여러 시스템 상태가 연달아 붉은색으로 바뀌었다.
P18
CHAPTER 3 CON TÀU KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG Ở ĐÂU
PAGE 19 / 62
But another warning drew Alex's attention. The force field above them was still sweeping along the hull, weakening and strengthening in pulses, as if NEXUS were not merely trying to sink them but searching for—or trying to pull out—something hidden inside the Cyber Boat. Each time the field intensified, something deep within the vessel answered with an unfamiliar energy pulse Alex had never seen before.
Nhưng một cảnh báo khác khiến Alex chú ý hơn: trường lực phía trên vẫn quét dọc thân tàu, lúc mạnh lúc yếu, như thể NEXUS không chỉ muốn đánh chìm họ mà đang cố dò tìm hoặc kéo ra một thứ gì đó bên trong Cyber Boat. Mỗi lần trường lực tăng, một vùng sâu trong thân tàu lại đáp lại bằng một xung năng lượng lạ mà Alex chưa từng thấy.
但另一个警告更吸引亚历克斯的注意。上方的力场仍在沿船身来回扫描,强弱交替,仿佛 NEXUS 不只是想击沉他们,而是在寻找——或者试图抽走——Cyber Boat 内部藏着的某样东西。每当力场增强,船体深处某个区域就会以一种亚历克斯从未见过的陌生能量脉冲回应。
하지만 알렉스의 시선을 더 끈 건 다른 경고였다. 위쪽의 역장이 여전히 선체를 따라 훑고 있었고 세기가 약해졌다 강해졌다를 반복했다. 마치 NEXUS가 그들을 가라앉히려는 것만이 아니라 Cyber Boat 안에 숨은 무언가를 찾거나 끌어내려는 듯했다. 역장이 강해질 때마다 선체 깊은 곳 어딘가에서 알렉스가 한 번도 본 적 없는 낯선 에너지 펄스가 반응했다.
The NEXUS sphere flashed with a cold phosphorescent glow, then vanished into empty space as if it had never existed. "It wasn't just attacking us," Alex said, one hand pressed to his forehead while he watched the graph fade from the screen. "It was looking for something inside the Cyber Boat. But I don't think it managed to take it."
Khối cầu NEXUS trên không trung chớp sáng một tia lân tinh lạnh lẽo rồi biến mất vào khoảng không hư vô như chưa từng tồn tại. “Nó không chỉ đánh tụi mình,” Alex nói, một tay ôm trán, mắt vẫn nhìn đồ thị đang tắt dần. “Nó đang tìm thứ gì đó trong Cyber Boat. Nhưng hình như nó chưa lấy được.”
NEXUS 球体闪过一道冰冷的磷光,随后像从未存在过一样消失在虚空中。“它不只是攻击我们。”亚历克斯一手按着额头,眼睛仍盯着屏幕上逐渐消失的曲线。“它在找 Cyber Boat 里面的某样东西。不过我觉得,它还没拿到。”
NEXUS 구체가 차가운 인광을 한 번 번쩍이더니 처음부터 존재하지 않았던 것처럼 허공 속으로 사라졌다. “그건 단순히 우리를 공격한 게 아니야.” 알렉스는 한 손으로 이마를 누른 채 화면에서 희미해지는 그래프를 바라봤다. “Cyber Boat 안의 뭔가를 찾고 있었어. 하지만 아직 가져가진 못한 것 같아.”
"I don't care what that alien chunk of metal was thinking," Jack said, tugging lightly on Alex's sleeve while staring through the windshield. "Look at the riverbank. We're about to have company—and they're carrying a whole lot of bronze and iron weapons." More than twenty small wooden boats were cutting through the reeds, closing in around the stranded craft.
“Tao không quan tâm cái cục sắt ngoài hành tinh đó nghĩ gì đâu,” Jack khẽ kéo giật tay áo bạn, mắt dán chặt ra ngoài lớp kính chắn gió. “Mày nhìn ra bờ sông đi… Chúng ta sắp có khách rồi đấy, và họ mang theo rất nhiều vũ khí bằng đồng và sắt”. Hơn hai mươi chiếc thuyền gỗ nhỏ đang rẽ lau sậy, bao vây kín mít chiếc tàu mắc cạn.
“我才不管那块外星铁疙瘩在想什么。”杰克轻轻拽了拽亚历克斯的袖子,目光死死盯着挡风玻璃外。“看看河岸吧……我们马上有客人了,而且他们带了不少青铜和铁制武器。”二十多艘小木船正拨开芦苇,从四面八方向搁浅的飞船包围过来。
“난 그 외계 금속 덩어리가 무슨 생각을 했는지 관심 없어.” 잭은 알렉스의 소매를 살짝 잡아당기며 앞유리 밖을 응시했다. “강둑 좀 봐. 곧 손님이 오겠는데, 청동이랑 철로 된 무기를 아주 많이 들고 오고 있어.” 스무 척이 넘는 작은 목선이 갈대를 헤치며 좌초된 선박을 사방에서 에워싸고 있었다.
P19
CHAPTER 4 HAI ĐỨA TRẺ BỊ BẮT
PAGE 20 / 62
The canopy slid open. Smoke from the engine compartment stung their eyes. Alex and Jack clambered out of the Cyber Boat with both hands raised so the people on shore could see they were unarmed. Huddled behind the trunk of an ancient fig tree was a fishing family of four.
Canopy mở trượt ra. Khói từ khoang động cơ bốc lên làm cay xè mắt. Alex và Jack lóp ngóp trèo khỏi Cyber Boat, hai tay giơ lên để những người trên bờ thấy rõ chúng không cầm vũ khí. Nép sau một gốc sung cổ thụ là một gia đình thuyền chài bốn người.
舱盖滑开。发动机舱冒出的烟呛得他们眼睛发疼。亚历克斯和杰克笨拙地爬出 Cyber Boat,双手高高举起,让岸上的人看清他们没有武器。附近一棵古老无花果树后,蜷缩着一家四口渔民。
canopy가 미끄러져 열렸다. 엔진실에서 올라오는 연기가 눈을 따갑게 했다. 알렉스와 잭은 Cyber Boat 밖으로 힘겹게 기어 나와 두 손을 들어 올렸다. 강둑의 사람들이 자신들이 비무장이라는 걸 분명히 보게 하려는 것이었다. 근처 오래된 무화과나무 뒤에는 네 식구로 보이는 어부 가족이 몸을 숨기고 있었다.
The father was lean but wiry, gripping an oar tightly; the mother pulled two children, perhaps twelve and thirteen, close against her. The boy stared without blinking at Jack's sneakers and hoodie. "Mother... are they water demons, or men sent by Omar?" the father whispered. Alex caught only a few scattered words.
Người cha gầy nhưng rắn rỏi, tay nắm chặt mái chèo; người mẹ kéo hai đứa con chừng mười hai, mười ba tuổi sát vào người. Cậu con trai nhìn đôi sneaker và chiếc hoodie của Jack không chớp mắt. “Bu nó ơi… quỷ nước hay người của Ô Mã Nhi phái tới vậy?” người cha thì thào. Alex chỉ bắt được vài tiếng rời rạc.
父亲身材瘦削却结实,双手紧握一支船桨;母亲把两个大约十二、十三岁的孩子紧紧护在身边。男孩一眨不眨地盯着杰克的运动鞋和连帽衫。“孩子他娘……他们是水鬼,还是乌马儿派来的人?”父亲低声问。亚历克斯只听懂了零零散散几个词。
아버지는 마르고 단단한 체격으로 노를 꽉 움켜쥐고 있었다. 어머니는 열두세 살쯤 되어 보이는 두 아이를 바짝 끌어안았다. 그중 아들은 잭의 운동화와 후드티를 눈도 깜빡이지 않고 쳐다봤다. “애 엄마… 저것들이 물귀신일까, 아니면 오마르가 보낸 자들일까?” 아버지가 속삭였다. 알렉스는 몇 단어만 겨우 알아들을 수 있었다.
Jack understood almost nothing. The boys had grown up in America; Alex's Vietnamese was good enough for everyday family conversation, but the pronunciation and vocabulary of the people before them sounded far more unfamiliar. His Gable Glass gave a soft vibration on the bridge of his nose. The language icon lit up, recorded the sentence, and compared it against its historical language database.
Jack thì gần như không hiểu gì. Hai đứa lớn lên ở Mỹ; vốn tiếng Việt của Alex đủ cho những câu chuyện gia đình hằng ngày, còn cách phát âm và từ ngữ của người trước mặt xa lạ hơn nhiều. Gable Glass rung nhẹ trên sống mũi Alex. Biểu tượng ngôn ngữ bật sáng, thu âm câu nói rồi đối chiếu với kho ngôn ngữ lịch sử.
杰克几乎一句都听不懂。两个男孩都是在美国长大的;亚历克斯的越南语足以应付日常家庭交流,可眼前这些人的发音和词汇却陌生得多。他鼻梁上的 Gable Glass 轻轻震动了一下。语言图标亮起,录下对方的话,并开始与历史语言数据库进行比对。
잭은 거의 아무 말도 알아듣지 못했다. 두 아이는 미국에서 자랐고, 알렉스의 베트남어는 일상적인 가족 대화 정도는 충분했지만 눈앞 사람들의 발음과 어휘는 훨씬 낯설었다. 콧등 위의 Gable Glass가 가볍게 진동했다. 언어 아이콘이 켜지고 방금 들은 문장을 녹음한 뒤 역사 언어 데이터베이스와 대조하기 시작했다.
P20
CHAPTER 4 HAI ĐỨA TRẺ BỊ BẮT
PAGE 21 / 62
After a few beats of delay, subtitles appeared before Alex's eyes. The bone-conduction earpiece replayed the meaning in modern Vietnamese, then switched to English for Jack. Alex touched the frame and activated two-way translation. "Omar?" He hesitated. He did not remember every detail of Vietnamese history, but he had heard stories about the Trần dynasty and its wars against the Mongol-Yuan forces.
Sau vài nhịp trễ, lớp phụ đề hiện ra trước mắt; tai nghe dẫn truyền xương phát lại bằng tiếng Việt hiện đại rồi chuyển sang tiếng Anh cho Jack. Alex chạm vào gọng kính, bật chế độ dịch hai chiều. “Ô Mã Nhi?” Alex khựng lại. Cậu không nhớ hết lịch sử Việt Nam, nhưng đã từng nghe những câu chuyện về nhà Trần và các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.
短暂延迟了几秒后,字幕出现在亚历克斯眼前。骨传导耳机先用现代越南语重放意思,随后又切换成英语给杰克听。亚历克斯碰了碰镜框,启动双向翻译。“乌马儿?”他愣了一下。越南历史的细节他记不全,但他听说过陈朝以及他们对抗蒙元军队的战争。
몇 박자 늦게 자막이 알렉스의 시야에 떠올랐다. 골전도 이어피스가 먼저 현대 베트남어로 뜻을 들려준 뒤 잭을 위해 영어로 바꿨다. 알렉스는 안경테를 건드려 양방향 번역을 켰다. “오마르?” 그는 잠시 멈칫했다. 베트남 역사의 모든 세부 사항을 기억하는 것은 아니었지만, 쩐 왕조와 몽골-원 세력에 맞선 전쟁 이야기는 들어 본 적이 있었다.
The glasses rapidly cross-checked their stored data: Omar, naval forces, late thirteenth century. The fragments began to connect, but Alex still did not dare decide exactly where—or when—they were. "Sir, we're not spies!" Jack blurted in English. The Gable Glass rendered it as a short Vietnamese sentence. He pointed at the Cyber Boat, then up at the sky.
Kính nhanh chóng đối chiếu dữ liệu lưu sẵn: Ô Mã Nhi, thủy quân, cuối thế kỷ mười ba. Những mảnh thông tin bắt đầu nối lại, nhưng Alex chưa dám kết luận họ đang ở đúng nơi nào hay ngày nào. “Các bác ơi, bọn cháu không phải gián điệp!” Jack nói bằng tiếng Anh theo phản xạ. Gable Glass dịch lại thành một câu Việt ngắn gọn. Cậu chỉ vào Cyber Boat rồi chỉ lên bầu trời.
镜片迅速核对内置资料:乌马儿、水军、十三世纪末。零散的信息开始拼接起来,可亚历克斯仍不敢断定他们究竟身处何地、何时。“先生,我们不是间谍!”杰克本能地用英语脱口而出。Gable Glass 把这句话转换成简短的越南语。他指了指 Cyber Boat,又指向天空。
안경은 저장된 자료를 빠르게 대조했다. 오마르, 수군, 13세기 말. 흩어진 정보들이 조금씩 맞아 들어가기 시작했지만, 알렉스는 아직 정확히 어디인지, 언제인지 단정할 수 없었다. “아저씨, 저희 스파이 아니에요!” 잭이 반사적으로 영어로 외쳤다. Gable Glass가 짧은 베트남어 문장으로 바꿔 내보냈다. 잭은 Cyber Boat를 가리킨 뒤 하늘을 가리켰다.
"Some kind of force field pulled us off course and brought us here. We're trying to find our way home too." The fisherman's son kept staring at Jack. At last he pointed at Jack's sneakers and asked a short question. The Gable Glass took almost two seconds to translate it: "What kind of shoes are those? Why aren't they tied with hemp cord?" Jack looked down at his feet, then at the boy's muddy bare feet.
“Bọn cháu bị một trường lực kéo lạc tới đây. Tụi cháu cũng đang tìm đường về.” Cậu con trai của gia đình thuyền chài vẫn nhìn Jack chằm chằm. Cuối cùng, nó chỉ vào đôi sneaker rồi hỏi một câu ngắn. Gable Glass mất gần hai giây mới dịch được: “Giày gì mà không buộc bằng dây gai?” Jack cúi xuống nhìn chân mình rồi nhìn đôi chân trần lấm bùn của cậu bé.
“某种力场把我们偏离了原来的方向,拉到了这里。我们也正在找回家的路。”渔夫家的男孩仍死死盯着杰克。最后,他指着杰克的运动鞋问了一个短短的问题。Gable Glass 花了将近两秒才翻译出来:“这是什么鞋?为什么不用麻绳绑?”杰克低头看看自己的鞋,又看看男孩沾满泥的赤脚。
“어떤 역장이 우리를 원래 경로에서 끌어내 여기로 데려왔어요. 저희도 집으로 돌아갈 길을 찾는 중이에요.” 어부의 아들은 계속 잭만 바라봤다. 마침내 운동화를 가리키며 짧게 물었다. Gable Glass가 번역하는 데 거의 2초나 걸렸다. “무슨 신발이기에 삼끈으로 묶지 않는가?” 잭은 자기 발을 내려다봤다가 소년의 진흙투성이 맨발을 바라봤다.
P21
CHAPTER 4 HAI ĐỨA TRẺ BỊ BẮT
PAGE 22 / 62
"Running shoes. Where I'm from, kids wear these to school." The glasses handled "school" easily but stumbled over "sneakers," finally producing something close to "fast-running shoes." The fisherman's son burst out laughing. His little sister stepped forward curiously, pointed at the design on Jack's hoodie, and asked whether it was a protective charm.
“Giày chạy. Ở chỗ tao, trẻ con mang cái này đi học.” Chiếc kính dịch “đi học” khá trơn tru nhưng vấp ở chữ “sneaker”, cuối cùng phát ra một cụm gần nghĩa là “hài chạy nhanh”. Cậu bé dân chài bật cười. Em gái nó tò mò bước ra nửa bước, chỉ vào chiếc hoodie của Jack rồi hỏi hình vẽ trước ngực có phải bùa hộ thân không.
“跑鞋。在我住的地方,小孩子穿这个去上学。”镜片对“上学”翻译得很顺利,却在“sneakers”上卡了一下,最后给出了一个大致相当于“快跑鞋”的说法。渔夫家的男孩笑了起来。他妹妹好奇地往前迈了半步,指着杰克连帽衫胸前的图案,问那是不是护身符。
“러닝화야. 내가 사는 곳에선 애들이 이거 신고 학교에 가.” 안경은 ‘학교에 간다’는 말은 자연스럽게 옮겼지만 ‘sneakers’에서 잠시 멈췄고, 결국 ‘빨리 달리는 신발’에 가까운 표현으로 번역했다. 어부의 아들이 웃음을 터뜨렸다. 여동생은 호기심에 반걸음 앞으로 나와 잭 후드티 가슴의 그림을 가리키며 부적인지 물었다.
"No. A game character." The Gable Glass paused, then translated it as: "A person from a pretend game." This time both children on shore laughed. Jack turned toward Alex and lowered his voice in English. "Your future glasses just turned me into the guy wearing a shirt with a fake person on it." Alex nearly snorted. For a moment, the distance between two centuries shrank to a pair of shoes and a picture on a sweatshirt.
“Không. Nhân vật game.” Gable Glass im lặng một nhịp rồi dịch thành: “Người trong trò chơi giả.” Lần này cả hai đứa trẻ bên bờ cùng cười. Jack quay sang Alex, hạ giọng bằng tiếng Anh: “Kính tương lai của mày vừa biến tao thành thằng mặc áo có người giả.” Alex suýt phì cười. Khoảng cách giữa hai thời đại bỗng thu ngắn lại chỉ bằng một đôi giày và một hình vẽ trên áo.
“不是,是游戏角色。”Gable Glass 停顿了一拍,然后翻成:“虚假游戏里的人。”这回岸边两个孩子都笑了。杰克转向亚历克斯,用英语压低声音说:“你这未来眼镜刚把我变成了穿着‘假人衬衫’的家伙。”亚历克斯差点笑喷。两个时代之间的距离,突然被一双鞋和衣服上的一幅图缩短了。
“아니. 게임 캐릭터야.” Gable Glass가 잠시 멈추더니 ‘가짜 놀이 속 사람’ 정도로 번역했다. 이번에는 강둑의 두 아이가 함께 웃었다. 잭이 알렉스 쪽으로 돌아 영어로 목소리를 낮췄다. “네 미래 안경이 방금 날 가짜 사람이 그려진 옷 입은 놈으로 만들어 버렸어.” 알렉스는 거의 웃음을 터뜨릴 뻔했다. 두 시대의 거리는 신발 한 켤레와 옷의 그림 하나만으로 잠시 훨씬 가까워졌다.
But the father never loosened his grip on the oar. He asked where the Cyber Boat had come from. Alex did not invent a hometown. He simply said that a strange force had thrown them off course and that they did not know how to get home. Suddenly, a series of buffalo-horn blasts sounded from the dike. The fishing family immediately crouched low.
Nhưng người cha vẫn không rời tay khỏi mái chèo. Ông hỏi Cyber Boat từ đâu tới. Alex không bịa ra một quê quán. Cậu chỉ đáp rằng họ bị một lực lạ kéo lạc đường và chính họ cũng chưa biết làm sao trở về. Một tràng tù và bằng sừng trâu đột ngột vang lên từ phía con đê. Gia đình thuyền chài lập tức cúi thấp người.
但父亲始终没有松开握着船桨的手。他问 Cyber Boat 是从哪里来的。亚历克斯没有编造什么家乡,只说一种奇怪的力量把他们带偏了路,而他们自己也不知道该怎么回去。突然,堤岸方向传来一串水牛角号声。渔民一家立刻俯低身体。
하지만 아버지는 노를 쥔 손을 끝까지 풀지 않았다. 그는 Cyber Boat가 어디에서 왔는지 물었다. 알렉스는 거짓 고향을 꾸며 내지 않았다. 그저 정체불명의 힘에 이끌려 길을 잃었고 자신들도 돌아갈 방법을 모른다고 답했다. 그때 둑 쪽에서 물소 뿔나팔 소리가 연달아 울렸다. 어부 가족은 즉시 몸을 낮췄다.
P22
CHAPTER 4 HAI ĐỨA TRẺ BỊ BẮT
PAGE 23 / 62
The reeds split apart as a patrol of more than thirty soldiers rushed down onto the bank, carrying spears, bows, and rattan shields. Their commander led from the front, never taking his eyes off the metal vessel stuck in the mud. "Seal the riverbank! Secure the iron boat!" he shouted. "You two—stand still!" Four soldiers closed in. The instant Jack moved, they pinned his arms behind his back.
Lau sậy rẽ mạnh; một toán tuần binh hơn ba mươi người tràn xuống bãi, tay cầm giáo, cung và khiên mây. Người chỉ huy đi đầu, ánh mắt không rời chiếc thuyền kim loại mắc bùn. “Phong tỏa bờ bãi! Giữ chặt chiếc thuyền sắt!” ông quát. “Hai người kia, đứng yên!” Bốn người lính áp sát. Jack vừa nhúc nhích đã bị khóa tay ra sau.
芦苇猛地向两侧分开,一支三十多人组成的巡逻队冲下河岸,手持长矛、弓和藤盾。带队的指挥官走在最前面,目光始终没有离开陷在泥里的金属船。“封锁河滩!控制住那艘铁船!”他大喝。“你们两个,别动!”四名士兵逼近。杰克刚一动,双臂就被反扣到身后。
갈대가 거칠게 양옆으로 갈라지더니 서른 명이 넘는 순찰대가 강둑으로 몰려 내려왔다. 손에는 창과 활, 등나무 방패가 들려 있었다. 지휘관은 맨 앞에 서서 진흙에 걸린 금속 배에서 눈을 떼지 않았다. “강둑을 봉쇄하라! 철선을 확보하라!” 그가 고함쳤다. “너희 둘, 움직이지 마라!” 병사 넷이 다가왔다. 잭이 몸을 움직이자마자 두 팔이 등 뒤로 꺾여 붙잡혔다.
"Wait! We're kids!" Jack's English had barely left his mouth when the Gable Glass spoke the translation. The commander stopped short at the sound of the glasses answering for him. He stepped closer, the point of his sword stopping in front of the blinking lenses on Alex's face. "What kind of mirror is this? Why does it speak our tongue?"
“Khoan đã! Tụi cháu là trẻ con mà!” Câu tiếng Anh của Jack vừa dứt, Gable Glass lập tức phát bản dịch. Viên chỉ huy khựng lại khi nghe chiếc kính nói thay cho cậu. Ông bước tới, mũi kiếm dừng trước tròng kính đang nhấp nháy trên mặt Alex. “Thứ gương này là gì? Vì sao nó nói tiếng của chúng ta?”
“等等!我们只是孩子!”杰克的英语话音刚落,Gable Glass 就立刻把译文说了出来。指挥官听见眼镜替他说话,不由得停了一下。他走上前,剑尖停在亚历克斯脸上不断闪烁的镜片前。“这是什么镜子?为什么会说我们的语言?”
“잠깐만요! 저희 애들이에요!” 잭의 영어가 끝나기가 무섭게 Gable Glass가 번역을 내보냈다. 안경이 잭 대신 말하는 소리를 듣고 지휘관이 흠칫 멈췄다. 그는 앞으로 다가와 검끝을 알렉스 얼굴의 깜빡이는 렌즈 앞에 멈췄다. “이 거울은 무엇이냐? 어찌 우리 말을 하는 것이냐?”
One soldier reached to yank the glasses off. Alex quickly shook his head and pointed to his ear, his mouth, then the lenses. He tried the few Vietnamese words he knew and let the Gable Glass translate the rest: "Without this, we cannot understand everything you say. It only helps us hear and speak." The commander studied Alex, then Jack, then deliberately fired off a sentence at full speed.
Một người lính định giật kính xuống. Alex vội lắc đầu, chỉ vào tai, vào miệng rồi vào chiếc kính. Cậu cố nói mấy từ tiếng Việt mình biết; phần còn lại để Gable Glass dịch: “Không có nó, chúng cháu không hiểu hết lời các chú. Nó chỉ giúp nghe và nói.” Viên chỉ huy nhìn Alex, nhìn Jack, rồi thử nói một câu thật nhanh.
一名士兵伸手想把眼镜扯下来。亚历克斯赶紧摇头,依次指了指自己的耳朵、嘴巴和镜片。他用自己会的几个越南语词开头,剩下的交给 Gable Glass 翻译:“没有它,我们没办法完全听懂你们的话。它只是帮助我们听和说。”指挥官先看了看亚历克斯,又看了看杰克,接着故意飞快地说了一整句。
병사 한 명이 안경을 벗기려 손을 뻗었다. 알렉스는 급히 고개를 저으며 귀와 입, 그리고 렌즈를 차례로 가리켰다. 자신이 아는 몇 마디 베트남어는 직접 말하고 나머지는 Gable Glass에 맡겼다. “이게 없으면 저희는 여러분 말을 전부 이해할 수 없어요. 듣고 말하는 걸 도와주는 것뿐이에요.” 지휘관은 알렉스와 잭을 차례로 살펴본 뒤 일부러 아주 빠르게 한 문장을 쏟아냈다.
P23
CHAPTER 4 HAI ĐỨA TRẺ BỊ BẮT
PAGE 24 / 62
Both pairs of glasses translated almost at once. The commander frowned, but finally lowered his hand. "The glasses stay. Everything else is confiscated." Their smart watches, mini reconnaissance drone, signal meter, Mentor iPad, and the tools in their backpacks were collected one by one into a coarse sack. Only the Gable Glass remained on their faces, under the soldiers' close watch.
Cả hai chiếc kính dịch gần như cùng lúc. Ông cau mày, nhưng cuối cùng hạ tay. “Kính để lại. Những thứ khác tịch thu.” Đồng hồ thông minh, drone trinh sát mini, thiết bị đo sóng, iPad Mentor và các dụng cụ trong ba-lô lần lượt bị gom vào một bao tải gai. Riêng Gable Glass vẫn ở trên mặt hai đứa dưới sự giám sát sát sao của quân lính.
两副眼镜几乎同时翻译出来。指挥官皱起眉,最终还是放下了手。“眼镜留下。其余东西全部没收。”智能手表、迷你侦察无人机、信号测量仪、Mentor iPad 以及背包里的各种工具,被一件件装进粗麻袋。只有 Gable Glass 仍戴在两个男孩脸上,但始终处在士兵严密监视之下。
두 안경은 거의 동시에 번역을 내놓았다. 지휘관은 인상을 찌푸렸지만 결국 손을 내렸다. “안경은 그대로 둔다. 나머지는 모두 압수한다.” 스마트워치와 미니 정찰 드론, 신호 측정기, Mentor iPad, 배낭 속 도구들이 하나씩 거친 자루 안으로 들어갔다. Gable Glass만 두 아이 얼굴에 남았고, 병사들은 눈을 떼지 않았다.
Because of that, the shouting around them was no longer a blur of incomprehensible sounds. It became warnings, questions, and commands they could answer. Alex still felt exposed with most of their equipment gone, but he quickly understood that the glasses solved only the language problem.
Nhờ vậy, những câu quát tháo xung quanh không còn là một mớ âm thanh khó hiểu; chúng trở thành lời cảnh giới, câu hỏi và mệnh lệnh mà hai đứa có thể đáp lại. Alex vẫn thấy hụt hẫng khi phần lớn thiết bị bị lấy đi, nhưng cậu nhanh chóng hiểu chiếc kính chỉ giải quyết được ngôn ngữ.
因此,周围那些怒吼和命令不再只是难以理解的一团声音,而变成了他们能听懂、能回应的警告、问题和指示。大部分设备被拿走后,亚历克斯仍感到很没有安全感,但他很快明白:眼镜解决的只是语言问题。
덕분에 주변의 고함소리는 더 이상 알아들을 수 없는 소음 덩어리가 아니었다. 경고와 질문, 명령으로 들렸고 두 아이도 대답할 수 있었다. 대부분의 장비를 빼앗긴 알렉스는 여전히 허전하고 불안했지만, 곧 안경이 해결하는 건 언어 문제뿐이라는 사실을 깨달았다.
But the glasses could not tell them who believed them, who suspected them, or what they should say next. Jack realized that first. He noticed that the soldiers tied them securely but did not beat them, stored the devices in a sack instead of smashing them, and kept looking toward the river as if they were expecting a much greater danger.
Nó không thể cho biết ai đang tin mình, ai đang nghi ngờ, hay nên nói câu gì tiếp theo. Jack nhận ra điều đó trước. Cậu để ý quân lính trói chắc nhưng không đánh, cất các thiết bị vào bao thay vì phá hủy, và liên tục nhìn về phía sông như đang chờ một mối nguy lớn hơn.
可眼镜无法告诉他们谁相信自己,谁在怀疑自己,更不可能告诉他们下一句该说什么。杰克先意识到了这一点。他注意到士兵虽然把他们绑得很牢,却没有动手殴打;设备被收进袋子,而不是当场砸毁;更重要的是,士兵们总是不停望向河面,仿佛在等待某个更大的威胁。
하지만 안경은 누가 자신들을 믿는지, 누가 의심하는지, 다음에 무슨 말을 해야 하는지는 알려 주지 못했다. 잭이 먼저 그 사실을 알아챘다. 병사들은 두 아이를 단단히 묶었지만 때리지는 않았고, 장비도 부수지 않고 자루에 보관했다. 무엇보다 계속 강 쪽을 바라보며 더 큰 위험을 기다리는 듯했다.
P24
CHAPTER 4 HAI ĐỨA TRẺ BỊ BẮT
PAGE 25 / 62
"Alex, don't fight them," Jack whispered in English, softly enough that the glasses did not broadcast a translation. "They think we're spies. The more we struggle, the more it looks like we're hiding something." Alex looked around, then let his shoulders relax. The boys were marched along the earthen dike.
“Alex, đừng chống lại,” Jack nói nhỏ bằng tiếng Anh, đủ khẽ để kính không phát bản dịch. “Họ sợ tụi mình là gián điệp. Càng giãy càng giống có chuyện giấu.” Alex nhìn quanh rồi thả lỏng vai. Hai đứa bị áp giải dọc theo con đê đất.
“亚历克斯,别反抗。”杰克用英语低声说道,声音小到眼镜没有自动播出翻译。“他们怕我们是间谍。越挣扎,越像是在藏什么。”亚历克斯看了看四周,随后放松肩膀。两个人被押着沿土堤前行。
“알렉스, 저항하지 마.” 잭이 번역이 송출되지 않을 만큼 작게 영어로 속삭였다. “저 사람들은 우리가 스파이라고 생각해. 몸부림칠수록 숨기는 게 있는 것처럼 보일 거야.” 알렉스는 주변을 둘러본 뒤 어깨에 힘을 풀었다. 두 아이는 흙둑을 따라 호송되었다.
At each guard post they passed, they saw arrows bundled in groups, provisions being loaded onto boats, and huge timbers prepared along the bank. No one needed to explain that this was not peacetime; the whole riverside moved with the urgent rhythm of an approaching battle. From the camp shelters, the Gable Glass picked up scattered names and phrases: Vạn Kiếp.
Qua từng trạm gác, chúng thấy tên được bó thành từng cụm, lương thảo chuyển xuống thuyền và những thân gỗ lớn đang được chuẩn bị bên bờ. Không ai cần giải thích đây là thời bình; cả bờ sông mang nhịp điệu gấp gáp của một trận đánh sắp tới. Từ các lán trại, Gable Glass bắt được những câu nói rời rạc: Vạn Kiếp.
经过一处又一处岗哨时,他们看见箭矢被成捆扎好,粮食正一批批装上船,大块木材则沿河岸整齐准备着。根本没人需要告诉他们这里不是和平时期——整条河岸都以大战将至的急促节奏运转。从营棚方向,Gable Glass 捕捉到一些零散的地名和词语:万劫。
초소를 하나씩 지나며 두 아이는 화살이 다발로 묶여 있고, 식량이 배에 실리며, 거대한 목재들이 강둑을 따라 준비되는 모습을 보았다. 여기가 평화로운 시기가 아니라는 설명은 필요도 없었다. 강변 전체가 다가오는 전투의 긴박한 리듬으로 움직이고 있었다. 야영지 쪽에서 Gable Glass가 띄엄띄엄 몇 단어를 포착했다. 반끼엡.
Omar. The fleet retreating toward the sea. Hưng Đạo Vương. Alex turned to Jack. "Now I'm almost sure. This is the Trần dynasty. And if those names are right... we're very close to the Battle of Bạch Đằng in 1288." Jack looked back at the Cyber Boat abandoned among the reeds. "Then before we find a way home, we'd better survive history first."
Ô Mã Nhi. Đoàn thuyền rút ra biển. Hưng Đạo Vương. Alex quay sang Jack. “Bây giờ tao gần chắc rồi. Đây là thời nhà Trần. Và nếu những cái tên kia đúng… mình đang ở rất gần Bạch Đằng năm 1288.” Jack nhìn chiếc Cyber Boat bị bỏ lại giữa lau sậy phía sau. “Vậy trước khi tìm đường về nhà, tụi mình phải sống sót qua lịch sử trước đã.”
乌马儿。舰队撤向海上。兴道王。亚历克斯转头看向杰克。“现在我几乎确定了。这是陈朝。如果那些名字都没错……我们离 1288 年的白藤江之战非常近。”杰克回头看了一眼被留在芦苇间的 Cyber Boat。“那在找到回家的路之前,我们得先从历史里活下来。”
오마르. 바다 쪽으로 퇴각하는 함대. 흥다오브엉. 알렉스가 잭을 바라봤다. “이제 거의 확실해. 여긴 쩐 왕조 시대야. 저 이름들이 맞다면… 우린 1288년 박당강 전투 바로 근처에 있어.” 잭은 갈대 사이에 남겨진 Cyber Boat를 돌아봤다. “그럼 집에 돌아갈 길을 찾기 전에 역사 속에서 살아남는 게 먼저겠네.”
P25
CHAPTER 5 NGƯỜI XƯA HỎI NGƯỜI TƯƠNG LAI
PAGE 26 / 62
The central command camp stood on a high rise overlooking the junction of three waterways. There was no throne and no lavish pavilion—only wooden tables, maps, command tablets, the smell of medicinal smoke, and the damp scent of river mud carried in by the wind. Before a leather map stood an older man in a dark robe over light armor, his beard streaked with silver.
Trung quân đại doanh dựng trên một gò đất cao nhìn ra ngã ba sông. Không có ngai vàng hay màn trướng xa hoa; chỉ có bàn gỗ, bản đồ, thẻ lệnh, mùi thuốc xông và hơi bùn từ ngoài sông theo gió thổi vào. Đứng trước tấm bản đồ bằng da là một người đàn ông đã lớn tuổi, áo bào sẫm khoác ngoài giáp nhẹ, chòm râu điểm bạc.
中央军营搭在一处高地上,可以俯瞰三条水道交汇之处。这里没有王座,也没有奢华帷帐,只有木桌、地图、令牌、熏药的气味,以及随风从河面吹来的湿泥气息。一张皮制地图前,站着一位上了年纪的男子,深色长袍披在轻甲外,胡须已染上银白。
중앙 지휘 진영은 세 물길이 만나는 곳을 내려다보는 높은 지대에 자리 잡고 있었다. 왕좌도 화려한 장막도 없었다. 나무 탁자와 지도, 명령패, 약초를 태운 냄새, 그리고 강에서 바람을 타고 들어오는 젖은 진흙 냄새뿐이었다. 가죽 지도 앞에는 나이 든 남자가 서 있었다. 짙은 겉옷 아래 가벼운 갑옷을 입었고 수염에는 은빛이 섞여 있었다.
He never had to raise his voice; everyone around him lowered theirs automatically. He was Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn. The sack containing the watches, the iPad, and the other devices was placed on the table. Alex and Jack were still wearing their Gable Glass. The officer who had brought them in explained that the glasses were the only reason the boys could understand and answer them.
Ông không cần lên giọng mà những người xung quanh vẫn tự động hạ thấp tiếng nói: Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn. Chiếc bao tải chứa đồng hồ, iPad và các thiết bị bị đặt lên bàn. Hai chiếc Gable Glass vẫn ở trên mặt Alex và Jack; viên tướng áp giải giải thích rằng đó là thứ duy nhất giúp hai đứa hiểu và trả lời.
他根本不需要提高音量,周围的人就会自觉压低声音。此人正是国公节制陈国峻。装着手表、iPad 和其他设备的麻袋被放到桌上。亚历克斯和杰克仍戴着 Gable Glass。押送他们来的军官解释说,这两副眼镜是他们能听懂并回答众人问题的唯一原因。
그는 목소리를 높일 필요도 없었다. 주변 사람들은 자연스럽게 목소리를 낮췄다. 바로 국공절제 쩐꾸옥뚜언이었다. 시계와 iPad, 다른 장비들이 든 자루가 탁자 위에 놓였다. 알렉스와 잭은 여전히 Gable Glass를 쓰고 있었다. 두 아이를 데려온 장교는 이 안경이 있어야만 아이들이 말을 이해하고 대답할 수 있다고 설명했다.
Two guards remained close beside them, never taking their eyes off the glowing lenses. "Your Highness," the officer reported, "these two children appeared with an iron boat that has neither sail nor oars. None of these objects has a known purpose." Trần Quốc Tuấn picked up the iPad. When his finger touched the edge, the screen woke and the emergency Mentor routine activated.
Hai lính hộ vệ vẫn đứng sát bên, mắt không rời khỏi những tròng kính phát sáng. “Khởi bẩm Đại Vương,” viên tướng nói. “Hai đứa trẻ xuất hiện cùng một thuyền sắt không buồm, không chèo. Những vật này đều không rõ công dụng.” Trần Quốc Tuấn cầm chiếc iPad lên. Khi ngón tay ông chạm vào cạnh máy, màn hình bật sáng và quy trình Mentor khẩn cấp được kích hoạt.
两名护卫依旧紧贴在旁,视线始终不离发光的镜片。“殿下,”军官禀报道,“这两个孩子和一艘无帆无桨的铁船一同出现。这些器物也都用途不明。”陈国峻拿起 iPad。手指刚碰到机身边缘,屏幕便亮了起来,紧急 Mentor 程序自动启动。
호위병 두 명은 여전히 곁에 바짝 서서 빛나는 렌즈에서 눈을 떼지 않았다. “대왕께 아룁니다.” 장교가 보고했다. “이 두 아이는 돛도 노도 없는 철선과 함께 나타났습니다. 이 물건들의 용도 또한 알 수 없습니다.” 쩐꾸옥뚜언이 iPad를 집어 들었다. 손가락이 가장자리에 닿자 화면이 켜지며 긴급 Mentor 루틴이 작동했다.
P26
CHAPTER 5 NGƯỜI XƯA HỎI NGƯỜI TƯƠNG LAI
PAGE 27 / 62
A blue hologram appeared above the table: Sun Tzu. "War is a matter of vital importance to the state..." Steel rang as several swords came halfway out of their scabbards. Trần Quốc Tuấn raised one hand. "Lower them. If this object meant to kill me, it would not need to recite a book first." Jack almost laughed, but managed to press his lips together. Trần Quốc Tuấn studied the projection, then turned to the boys.
Một hình chiếu màu lam hiện lên phía trên mặt bàn: Tôn Tử. “Binh giả, quốc chi đại sự…” XOẢNG! Mấy thanh gươm lập tức rời vỏ. Trần Quốc Tuấn chỉ giơ một tay. “Hạ xuống. Nếu vật này muốn hại ta, nó đã không cần đọc sách trước.” Jack suýt bật cười nhưng kịp mím môi. Trần Quốc Tuấn nhìn hình chiếu rồi quay sang hai đứa.
桌面上方浮现出一道蓝色全息影像:孙子。“兵者,国之大事……”铿锵声骤然响起,几把剑立刻出鞘一半。陈国峻只抬起一只手。“放下。若此物真想害我,就不必先念书。”杰克差点笑出声,赶紧抿住嘴。陈国峻观察了片刻全息影像,随后转向两个男孩。
탁자 위에 푸른 홀로그램이 떠올랐다. 손자였다. “병자, 국지대사…” 철컥! 여러 자루의 칼이 동시에 반쯤 뽑혔다. 쩐꾸옥뚜언은 한 손만 들어 올렸다. “내려라. 이 물건이 나를 해칠 생각이었다면 책을 먼저 읽을 필요는 없었을 것이다.” 잭은 웃음이 터질 뻔했지만 입술을 꾹 다물었다. 쩐꾸옥뚜언은 홀로그램을 바라보다 두 아이 쪽으로 시선을 돌렸다.
"Those are the words of Sun Wu. Why does such a small object know the words of a man who died long ago?" Alex took a deep breath and chose the shortest answer he could so the translation would not distort it. "Sir... we're not spirits, and we didn't come here to hurt anyone. These are machines from where we live. They store the knowledge of many people, including teachings from long ago."
“Đây là lời Tôn Võ. Vì sao một vật nhỏ lại biết lời người đã mất từ lâu?” Alex hít sâu, lựa lời thật ngắn để hệ thống dịch không làm câu nói trở nên kỳ quặc. “Thưa bác… chúng cháu không phải ma quỷ, cũng không đến đây để làm hại ai. Những thứ này là máy móc từ nơi chúng cháu sống. Nó lưu lại kiến thức của nhiều người, kể cả những lời dạy rất xưa.”
“这是孙武之言。这样一个小物件,为何知道一个早已故去之人的话?”亚历克斯深吸一口气,尽量把答案说得简短,免得翻译系统把句子弄得古怪。“先生……我们不是鬼怪,也不是来伤害任何人的。这些是我们生活之处使用的机器。里面保存着许多人的知识,包括很久以前留下的教诲。”
“이는 손무의 말이다. 어찌 이 작은 물건이 오래전에 죽은 자의 말을 알고 있느냐?” 알렉스는 깊게 숨을 들이쉬고 번역이 이상해지지 않도록 최대한 짧게 대답할 말을 골랐다. “저희는 귀신도 아니고, 누구를 해치러 온 것도 아니에요. 이것들은 저희가 사는 곳에서 쓰는 기계예요. 많은 사람의 지식을 저장하고 있고, 아주 오래된 가르침도 들어 있습니다.”
"And where is this place where you live?" Alex and Jack looked at each other. The truth sounded impossible, but lying now could be even more dangerous. "Very far away," Alex said. "Farther than a journey by boat. And... not only far in distance." Several officers frowned. Trần Quốc Tuấn did not press them for more.
“Nơi các ngươi sống ở đâu?” Alex và Jack nhìn nhau. Câu trả lời thật quá khó tin, còn nói dối lúc này lại càng nguy hiểm. “Xa lắm ạ,” Alex đáp. “Xa hơn một chuyến đi bằng thuyền. Và… không chỉ xa theo đường đất.” Vài tướng lĩnh cau mày. Trần Quốc Tuấn không ép hỏi tiếp.
“那你们生活的地方在哪里?”亚历克斯和杰克对视一眼。真话听起来太过荒唐,可此刻撒谎只会更危险。“非常远。”亚历克斯说。“比坐船能到的地方还远。而且……不只是地面上的距离。”几名将领皱起眉。陈国峻却没有继续逼问。
“그대들이 사는 곳은 어디인가?” 알렉스와 잭은 서로를 바라봤다. 진실은 너무 믿기 힘들었고, 지금 거짓말을 하는 건 더 위험할 수 있었다. “아주 멀어요.” 알렉스가 답했다. “배로 가는 거리보다 더 멀고… 단순히 땅 위의 거리만 먼 것도 아니에요.” 몇몇 장수가 미간을 찌푸렸다. 쩐꾸옥뚜언은 더 캐묻지 않았다.
P27
CHAPTER 5 NGƯỜI XƯA HỎI NGƯỜI TƯƠNG LAI
PAGE 28 / 62
He set the iPad down, looked at the Gable Glass, then at the fabric and stitching of the boys' clothes. "Your machines know the words of the ancients, yet your clothing and your vessel resemble nothing from any land I know." He paused. "If the place you come from has become skilled enough to make such things, surely people there have also learned how to avoid war?"
Ông đặt iPad xuống, nhìn Gable Glass rồi nhìn lớp vải và đường may trên áo hai đứa. “Máy móc của các ngươi biết lời người xưa, nhưng y phục và con thuyền lại chẳng giống bất cứ xứ nào ta từng biết.” Ông dừng một nhịp. “Vậy nơi các ngươi sống đã giỏi đến mức chế ra những vật này, hẳn con người cũng đã tìm được cách tránh binh đao?”
他把 iPad 放回桌上,先看 Gable Glass,又看两个男孩衣服的布料与针脚。“你们的机器知道古人的话,可你们的衣服和船却不像我所见过的任何一个地方。”他停顿了一下。“既然你们那里已经有本事造出这样的东西,想必人也早就学会如何避免兵戈了吧?”
그는 iPad를 내려놓고 Gable Glass를 본 뒤 두 아이 옷의 천과 바느질을 살폈다. “그대들의 기계는 옛사람의 말을 알면서도, 그대들의 옷과 배는 내가 아는 어느 나라의 것과도 닮지 않았다.” 잠시 멈춘 그가 물었다. “그대들이 사는 곳이 이런 물건을 만들 만큼 뛰어나다면, 사람들은 전쟁을 피하는 법도 이미 배웠겠지?”
The question left Alex without an immediate answer. He had always assumed that newer technology meant a better world, but the wars he had seen in books, documentaries, and news reports made the answer far less simple.
Câu hỏi khiến Alex không biết trả lời ngay. Cậu từng mặc nhiên nghĩ công nghệ mới hơn đồng nghĩa với thế giới tốt hơn, nhưng những hình ảnh chiến tranh từng thấy trong sách, phim tài liệu và bản tin khiến câu trả lời không còn đơn giản.
这个问题让亚历克斯一时答不上来。他一直想当然地认为,更新的技术就意味着更好的世界,可他在书本、纪录片和新闻中看过的那些战争,让答案一下子变得远没有那么简单。
그 질문에 알렉스는 바로 대답하지 못했다. 그는 늘 더 새로운 기술은 더 나은 세상을 뜻한다고 막연히 생각해 왔다. 하지만 책과 다큐멘터리, 뉴스에서 본 전쟁 장면들을 떠올리자 답은 전혀 단순하지 않았다.
"Um... I don't think we have," Jack answered first, with such blunt honesty that Alex turned to look at him. "Where we come from, we fight in games every day, so sometimes we think war is like a match—you lose, you restart." He glanced through the tent opening at soldiers carrying bundles of arrows and medical supplies.
“Dạ… hình như vẫn chưa ạ,” Jack lên tiếng trước, thành thật đến mức Alex quay sang nhìn. “Ở chỗ tụi cháu, bọn cháu đánh nhau trong game mỗi ngày nên cứ tưởng chiến tranh cũng giống một trận đấu: thua thì chơi lại.” Cậu nhìn ra ngoài cửa lều, nơi những người lính đang khiêng tên và thuốc men.
“呃……好像还是没有。”杰克先开口,坦率得连亚历克斯都转头看他。“我们那里每天都在游戏里打仗,所以有时候会以为战争也像比赛一样——输了就重新开始。”他望向帐篷外,那里士兵们正搬运成捆的箭和药品。
“음… 아직 그런 것 같진 않아요.” 잭이 먼저 답했다. 너무 솔직해서 알렉스가 돌아볼 정도였다. “저희는 매일 게임에서 싸우니까 가끔 전쟁도 경기 같은 거라고 생각해요. 지면 다시 시작하면 된다고요.” 그는 천막 바깥을 바라봤다. 병사들이 화살 다발과 약품을 옮기고 있었다.
P28
CHAPTER 5 NGƯỜI XƯA HỎI NGƯỜI TƯƠNG LAI
PAGE 29 / 62
"But there isn't a restart button here. If everyone already knows a lot of people will die... why not talk first?" Trần Quốc Tuấn watched Jack for a moment, then asked, "If a man carrying a sword has already come to your door, how long would you keep talking?" Jack hesitated. "Until I'm sure there's no other choice."
“Nhưng ở đây không có nút chơi lại. Nếu ai cũng biết trước sẽ có nhiều người chết… sao không nói chuyện với nhau trước?” Trần Quốc Tuấn nhìn Jack một lúc rồi hỏi: “Nếu kẻ cầm gươm đã tới trước cửa nhà ngươi, ngươi muốn nói chuyện bao lâu?” Jack ngập ngừng. “Cho tới khi chắc là không còn cách nào khác.”
“可这里没有重新开始按钮。如果大家都知道会死很多人……为什么不先谈一谈?”陈国峻看了杰克片刻,问道:“若一个持剑之人已经来到你家门口,你准备和他谈多久?”杰克迟疑了一下。“直到我确定真的没有别的办法。”
“하지만 여기엔 재시작 버튼이 없잖아요. 많은 사람이 죽을 걸 다들 알고 있다면… 왜 먼저 대화하지 않죠?” 쩐꾸옥뚜언이 잭을 잠시 바라보다 물었다. “칼을 든 자가 이미 네 집 문앞까지 왔다면, 너는 얼마나 오래 이야기를 나누겠느냐?” 잭이 머뭇거렸다. “정말 다른 방법이 없다는 걸 확신할 때까지요.”
"Exactly." He nodded. "But to know whether another choice remains, you must look at what they have done, what they are doing, and what they are preparing to do. Words are only one part of it." Alex suddenly thought of the data tables on the iPad. "Where we come from, machines can store enormous amounts of information. If we have enough data, we can calculate the option with the least harm."
“Đúng.” Ông gật đầu. “Nhưng muốn biết còn cách hay không, phải nhìn việc họ đã làm, việc họ đang làm và điều họ chuẩn bị làm. Lời nói chỉ là một phần.” Alex chợt nhớ tới những bảng dữ liệu trên iPad. Cậu chen vào: “Ở chỗ chúng cháu, máy có thể lưu rất nhiều thông tin. Nếu biết đủ dữ liệu, mình có thể tính cách ít thiệt hại nhất.”
“正是如此。”他点头。“可要判断是否还有别的办法,就必须看他们已经做过什么、正在做什么,以及准备做什么。言语只是其中一部分。”亚历克斯突然想到了 iPad 上那些数据表。“我们那里,机器能保存非常多的信息。只要数据足够,也许就能算出伤害最小的选择。”
“그렇다.” 그가 고개를 끄덕였다. “하지만 다른 길이 남아 있는지 알려면 그들이 이미 무엇을 했는지, 지금 무엇을 하고 있는지, 앞으로 무엇을 준비하는지를 봐야 한다. 말은 그중 한 부분일 뿐이다.” 알렉스는 문득 iPad의 데이터 표를 떠올렸다. “저희가 사는 곳에선 기계가 엄청난 양의 정보를 저장할 수 있어요. 데이터가 충분하면 피해가 가장 적은 선택을 계산할 수도 있고요.”
"Can your machine tell you what that soldier is afraid of?" Trần Quốc Tuấn pointed beyond the tent, where a young soldier was tightening the armor straps of the man beside him. "Does it know where his home is, whom his mother is waiting for, or whether he will stand his ground or run when the order comes?"
“Máy của ngươi có biết người lính kia sợ điều gì không?” Trần Quốc Tuấn chỉ ra ngoài lều, nơi một binh sĩ trẻ đang buộc lại dây giáp cho người bên cạnh. “Có biết nhà hắn ở đâu, mẹ hắn đang chờ ai, hay khi lệnh truyền xuống thì hắn sẽ đứng lại hay bỏ chạy?”
“你的机器能告诉你,外面那个士兵害怕什么吗?”陈国峻指向帐篷外,一名年轻士兵正在帮身旁的人重新系紧甲带。“它知道他的家在哪里吗?知道他的母亲在等谁吗?或者当命令下来时,他会坚守还是逃跑?”
“그대의 기계는 저 병사가 무엇을 두려워하는지 알 수 있느냐?” 쩐꾸옥뚜언이 천막 밖을 가리켰다. 젊은 병사 하나가 옆 사람의 갑옷 끈을 다시 조여 주고 있었다. “그의 집이 어디인지, 그의 어머니가 누구를 기다리는지, 명령이 내려왔을 때 그가 자리를 지킬지 달아날지도 아느냐?”
P29
CHAPTER 5 NGƯỜI XƯA HỎI NGƯỜI TƯƠNG LAI
PAGE 30 / 62
Alex fell silent. "No, sir." "Then data may help you see farther, but it cannot carry the consequences for you." The words struck Alex hard. The iPad could hold maps, histories, and millions of numbers, yet there was no button that could answer for a human being what should be sacrificed—and what must be protected.
Alex im lặng. “Không ạ.” “Vậy dữ liệu giúp ngươi nhìn xa, nhưng không thay ngươi gánh hậu quả.” Câu nói làm Alex chột dạ. Chiếc iPad có thể chứa bản đồ, sách sử và hàng triệu con số, nhưng không có nút nào trả lời thay một con người rằng nên hy sinh điều gì để bảo vệ điều gì.
亚历克斯沉默了。“不知道。” “那么,数据能让你看得更远,却不能替你承担后果。”这句话重重击中了亚历克斯。iPad 可以装下地图、历史和数百万个数字,却没有任何一个按钮能替人回答:为了保护什么,应该牺牲什么。
알렉스는 말이 없었다. “아니요.” “그렇다면 데이터는 그대가 더 멀리 보게 도울 수는 있어도, 그대 대신 결과를 감당해 주지는 못한다.” 그 말은 알렉스의 가슴을 찔렀다. iPad에는 지도와 역사, 수백만 개의 숫자를 담을 수 있었지만 무엇을 지키기 위해 무엇을 희생해야 하는지를 사람 대신 답해 주는 버튼은 어디에도 없었다.
For the first time, he stopped seeing the leather maps on the table as crude versions of electronic screens. They were the result of real people who had traveled, watched, measured, remembered, and returned to report what they had found. One officer stepped forward with an irritated look. "What do children know of war—" "Let him ask," Trần Quốc Tuấn said.
Lần đầu tiên cậu không còn nhìn những tấm bản đồ da trên bàn như phiên bản thô sơ của màn hình điện tử. Chúng là kết quả của người thật đã đi, nhìn, đo, nhớ và trở về báo cáo. Một viên tướng bước lên, vẻ mặt khó chịu. “Trẻ con biết gì việc quân—” “Để nó hỏi,” Trần Quốc Tuấn nói.
这是第一次,他不再把桌上的皮制地图看作电子屏幕的粗糙旧版本。这些地图来自真正的人——他们亲自走过、看过、测量过、记住过,然后活着回来汇报。一名将领神色不悦地上前一步。“孩子懂什么军国大事——” “让他问。”陈国峻说道。
처음으로 알렉스는 탁자 위의 가죽 지도를 전자 화면의 원시적인 버전으로 보지 않았다. 그것은 실제 사람들이 직접 걸어 다니고, 보고, 재고, 기억한 뒤 돌아와 보고해서 만들어진 결과였다. 한 장수가 못마땅한 표정으로 앞으로 나섰다. “아이들이 군사를 무엇을 안다고—” “묻게 두어라.” 쩐꾸옥뚜언이 말했다.
He was quiet for a moment, then looked out toward the river. "Every commander hopes to avoid death if another path remains. But sometimes one side does not come to negotiate as an equal. It comes to force the other side to submit. When that happens, words mean something only if you still have the strength behind them to defend what you cannot surrender."
Ông im lặng một lúc rồi nhìn ra dòng sông. “Người cầm quân nào cũng mong tránh được cảnh người chết nếu còn con đường khác. Nhưng có lúc một bên đến không phải để bàn điều kiện ngang hàng, mà để buộc bên kia khuất phục. Khi ấy, lời nói chỉ có nghĩa nếu phía sau nó còn có sức giữ lấy điều mình không thể nhường.”
他沉默片刻,随后望向河面。“若还有别的路,每一个领兵之人都希望避免死人。但有时候,一方前来并不是为了以平等身份谈条件,而是为了逼另一方屈服。到了那种时候,话语之所以有分量,是因为背后仍有足够的力量守住自己绝不能让出的东西。”
그는 잠시 침묵하다 강 쪽을 바라봤다. “다른 길이 남아 있다면 어느 장수든 사람이 죽는 일을 피하고 싶어 한다. 하지만 때로는 한쪽이 대등하게 조건을 논의하러 오는 것이 아니라 상대를 굴복시키기 위해 온다. 그럴 때 말에 힘이 있으려면, 뒤에 결코 내줄 수 없는 것을 지킬 힘이 남아 있어야 한다.”
P30
CHAPTER 5 NGƯỜI XƯA HỎI NGƯỜI TƯƠNG LAI
PAGE 31 / 62
Jack did not argue. He looked at the young soldiers outside the tent, then asked softly, "So is winning enough?" Trần Quốc Tuấn turned back to him. "No. A battle is not fought to prove who is stronger. If battle becomes necessary, the purpose is to stop the danger, defend the land, and bring as many people home as possible. A victory that leaves your own people exhausted and ruined can still cost too much."
Jack không cãi. Cậu nhìn những người lính trẻ ngoài lều, rồi hỏi nhỏ: “Vậy thắng là đủ sao?” Trần Quốc Tuấn quay lại. “Không. Đánh trận không phải để chứng minh ai mạnh hơn. Nếu buộc phải đánh, mục đích là chặn mối nguy, giữ bờ cõi và đưa càng nhiều người trở về nhà càng tốt. Thắng mà để dân mình kiệt quệ thì cái giá ấy vẫn quá đắt.”
杰克没有争辩。他看着帐篷外那些年轻士兵,轻声问:“那只要赢了就够了吗?”陈国峻转过身来。“不。打仗不是为了证明谁更强。若非战不可,目的应是阻止危险、守住疆土,并尽可能让更多人回家。若胜利换来的却是自己的百姓筋疲力尽、家园凋敝,那代价仍然太大。”
잭은 반박하지 않았다. 그는 천막 밖의 젊은 병사들을 바라보다 조용히 물었다. “그럼 이기기만 하면 되는 건가요?” 쩐꾸옥뚜언이 돌아봤다. “아니다. 전투는 누가 더 강한지 증명하려고 하는 것이 아니다. 싸울 수밖에 없다면 목적은 위험을 막고, 국토를 지키고, 가능한 많은 사람을 집으로 돌려보내는 것이다. 승리했어도 백성이 기진맥진하고 삶이 무너졌다면 그 대가는 여전히 너무 크다.”
Alex looked at the iPad on the table, then at the leather maps, bamboo command slips, and messengers traveling by horse. The tools of the two eras could hardly have been more different, yet the question behind them was the same: what do you know, what do you trust, and how do you decide when every choice carries a price?
Alex nhìn chiếc iPad trên bàn rồi nhìn những tấm bản đồ bằng da, thẻ tre và những người đang chuyển tin bằng chân ngựa. Công cụ của hai thời đại khác nhau đến khó tin, nhưng câu hỏi phía sau lại giống nhau: biết điều gì, tin điều gì, và quyết định thế nào khi mỗi lựa chọn đều có cái giá của nó.
亚历克斯看了看桌上的 iPad,又望向那些皮制地图、竹制令牌和骑马传令的人。两个时代的工具差异大得不可思议,可背后的问题却完全一样:你知道什么?相信什么?当每一种选择都有代价时,又该如何决定?
알렉스는 탁자 위의 iPad를 본 뒤 가죽 지도와 대나무 명령패, 말을 타고 소식을 전하는 사람들을 바라봤다. 두 시대의 도구는 믿기 힘들 만큼 달랐지만 그 뒤에 놓인 질문은 같았다. 무엇을 알고, 무엇을 믿으며, 모든 선택에 대가가 따를 때 어떻게 결정할 것인가.
At that exact moment, the iPad vibrated sharply. A hydrology warning from a sensor still operating aboard the Cyber Boat appeared on-screen. The predicted water-level curve and the measured curve were separating fast. Alex leaned closer. "Wait... the water level is wrong."
Đúng lúc ấy, iPad rung mạnh. Một cảnh báo thủy văn từ cảm biến còn hoạt động trên Cyber Boat hiện lên. Đường dự đoán và đường đo thực tế tách xa nhau. Alex nghiêng người nhìn. “Khoan đã… mực nước không đúng.”
就在这时,iPad 猛地震动起来。Cyber Boat 上仍在工作的传感器发来一条水文警报。预测水位曲线与实际测量曲线正迅速分离。亚历克斯俯身查看。“等等……水位不对。”
바로 그때 iPad가 세게 진동했다. Cyber Boat에서 아직 작동 중인 센서가 수문 경보를 보내 왔다. 예상 수위 곡선과 실제 측정 곡선이 빠르게 벌어지고 있었다. 알렉스가 몸을 숙여 화면을 들여다봤다. “잠깐… 수위가 이상해.”
P31
CHAPTER 6 DÒNG SÔNG NÓI DỐI
PAGE 32 / 62
The hydrology display on the iPad, fed by the Cyber Boat's remaining active sensors, showed two curves separating in a way that made no sense: HYDROLOGICAL ANOMALY: TIDAL RECESSION RATE -85%. WATER LEVEL: ARTIFICIALLY STABILIZED. Alex scanned the graph and shouted, "Your Highness! The tide... the river is lying! The water isn't receding according to the lunar cycle!"
Đồ thị thủy văn trên màn hình iPad, quét từ các cảm biến còn hoạt động của Cyber Boat, hiện lên hai đường cong tách xa nhau một cách kỳ dị: HYDROLOGICAL ANOMALY: TIDAL RECESSION RATE -85%. WATER LEVEL: ARTIFICIALLY STABILIZED. Alex nhìn lướt qua đồ thị rồi hét toáng lên: “Đại Vương! Con nước… dòng sông đang nói dối! Thủy triều hôm nay không rút theo lịch trăng!”
iPad 上的水文画面由 Cyber Boat 仍在工作的传感器实时传来,两条曲线诡异地越拉越远:HYDROLOGICAL ANOMALY: TIDAL RECESSION RATE -85%. WATER LEVEL: ARTIFICIALLY STABILIZED. 亚历克斯扫了一眼图表,猛地喊道:“殿下!潮水……这条河在说谎!水位没有按照月相规律退下去!”
Cyber Boat에서 아직 작동 중인 센서가 보내 온 수문 화면에는 두 곡선이 말도 안 되게 벌어져 있었다. HYDROLOGICAL ANOMALY: TIDAL RECESSION RATE -85%. WATER LEVEL: ARTIFICIALLY STABILIZED. 알렉스가 그래프를 훑어보고 소리쳤다. “대왕님! 물이… 강이 거짓말을 하고 있어요! 조수 간만이 달의 주기에 맞게 빠지지 않고 있습니다!”
The entire command tent erupted. "What nonsense are you talking about?" Deputy General Đỗ Hành stepped forward, suspicion hardening his expression. "For generations the tides of the Bạch Đằng have risen and fallen with the moon. How could that suddenly be wrong?" "Because the measurements don't match!" Alex said, pointing at the two hydrological curves on the iPad.
Cả căn lều trung quân lập tức chấn động. “Ngươi nói bậy bạ gì đó?” Viên phó tướng Đỗ Hành bước lên, ánh mắt đầy nghi kỵ. “Con nước triều sông Bạch Đằng từ ngàn đời nay đều lên xuống theo con trăng tuần hoàn, sai lệch làm sao được?” “Nhưng số liệu không khớp!” Alex chỉ vào màn hình iPad đang hiển thị hai đường cong thủy văn.
整个中军帐顿时一片哗然。“你在胡说什么?”副将杜行上前一步,脸上的怀疑更深了。“白藤江潮水世世代代都随月亮涨落,怎么可能突然错了?” “可测量结果对不上!”亚历克斯指着 iPad 上那两条水文曲线。
지휘 천막 전체가 술렁였다. “무슨 헛소리를 하는 것이냐?” 부장 도하인이 의심 가득한 얼굴로 한 걸음 나섰다. “박당강의 물때는 대대로 달의 주기에 따라 오르내렸다. 어찌 갑자기 틀릴 수 있단 말이냐?” “하지만 측정값이 맞지 않아요!” 알렉스가 iPad의 두 수문 곡선을 가리켰다.
"The blue line is the natural pattern. The water should have started falling half an hour ago. But the red line shows the real level holding strangely steady, while pressure near the riverbed is spiking!" Đỗ Hành did not look at the screen right away. He walked to the edge of the rise and called for a sailor to bring a thin bamboo stake marked with notches and a small wooden float tied to a cord.
“Đường màu xanh là quy luật tự nhiên, lẽ ra nước đã phải bắt đầu rút cách đây nửa giờ. Nhưng đường màu đỏ thực tế cho thấy mực nước đang đứng yên một cách bất thường, áp suất dưới đáy sông đang tăng vọt!” Đỗ Hành không nhìn màn hình ngay. Ông bước ra mép gò, gọi một lính thủy mang tới một cọc tre mảnh có những vạch khắc và một chiếc phao gỗ nhỏ buộc dây.
“蓝线代表自然规律,半小时前水位就该开始下降了。可红线显示实际水位异常地维持不变,而且河床附近的压力正在急剧上升!”杜行没有立刻去看屏幕。他走到高地边缘,让一名水军取来一根刻有标记的细竹竿,以及一只系着绳子的木制小浮标。
“파란 선은 자연적인 패턴이에요. 물은 30분 전부터 빠지기 시작했어야 합니다. 그런데 빨간 선을 보면 실제 수위가 이상하게 그대로고, 강바닥 부근 압력은 급격히 올라가고 있어요!” 도하인은 당장 화면을 보지 않았다. 그는 둔덕 가장자리로 가서 수군 한 명에게 눈금이 새겨진 가느다란 대나무 말뚝과 줄에 묶인 작은 나무 부표를 가져오게 했다.
P32
CHAPTER 6 DÒNG SÔNG NÓI DỐI
PAGE 33 / 62
The sailor dropped the float into the channel, counted the beats, hauled it back, then compared the water level with the marks carved into the bamboo earlier that day. "We do not call it a graph," Đỗ Hành said through the Gable Glass translation. "But how much the water rises, how much it falls, how fast it runs—we have people record those things every day."
Người lính thả phao xuống lạch, đếm nhịp rồi kéo lên, sau đó so mực nước với dấu đã khắc trên cọc từ đầu buổi. “Chúng ta không gọi nó là đồ thị,” Đỗ Hành nói qua bản dịch của Gable Glass. “Nhưng nước lên bao nhiêu, rút bao nhiêu, chảy nhanh hay chậm, ngày nào cũng có người ghi.”
士兵把浮标放进水道,数着节拍后再拉回来,并将水位与早些时候刻在竹竿上的标记进行比较。“我们不把它叫作图表。”杜行借助 Gable Glass 的翻译说道,“但水涨多少、退多少,流得快还是慢,每天都有人记录。”
병사는 부표를 물길에 띄우고 박자를 센 뒤 다시 끌어올렸다. 그러고는 수위를 그날 앞서 대나무에 새겨 둔 눈금과 비교했다. “우리는 이것을 그래프라고 부르진 않는다.” 도하인이 Gable Glass 번역을 통해 말했다. “하지만 물이 얼마나 오르고 빠지는지, 흐름이 빠른지 느린지는 매일 기록하는 사람이 있다.”
Alex stepped closer. He held a portable ultrasonic sensor just above the surface and watched the numbers appear. Its current-speed reading almost matched the Trần soldiers' rope-and-float measurement. There was only one difference from normal: both methods showed the river moving far too slowly. Jack looked at the wooden float, then at the screen. "One side has lithium batteries. The other has a piece of wood."
Alex bước tới. Cậu gắn cảm biến siêu âm cầm tay sát mặt nước rồi nhìn con số hiện lên. Tốc độ dòng chảy mà thiết bị đo được gần trùng với phép đo dây và phao của quân Trần — chỉ khác một điều: cả hai đều cho thấy dòng nước đang chậm bất thường. Jack nhìn chiếc phao gỗ, rồi nhìn màn hình. “Một bên pin lithium, một bên khúc gỗ.”
亚历克斯走上前,把手持超声波传感器贴近水面,盯着跳出的数值。仪器测得的流速几乎与陈军用绳子和浮标得到的结果一致。只有一点不正常:两种方法都显示河水流得远比平时慢。杰克看看木浮标,又看看屏幕。“一边是锂电池,一边是一块木头。”
알렉스가 다가가 휴대용 초음파 센서를 수면 가까이에 대고 숫자를 확인했다. 장비가 측정한 유속은 쩐군이 줄과 부표로 잰 값과 거의 같았다. 단 하나의 이상은 두 방식 모두 강물이 평소보다 훨씬 느리게 흐른다고 보여 준다는 점이었다. 잭은 나무 부표를 보고 화면을 봤다. “한쪽은 리튬 배터리고, 한쪽은 나무 조각이네.”
"And both are telling us the same thing," Alex replied. He could no longer reassure himself that the Cyber Boat's sensor was malfunctioning. The observations of people who had spent their lives on the river had just become an independent check on his equipment. If both methods showed the same anomaly in the same direction, the problem had to be in the water itself.
“Và hai bên đang nói cùng một chuyện,” Alex đáp. Cậu không còn có thể tự trấn an rằng cảm biến của Cyber Boat bị lỗi. Quan sát của những người đã sống cả đời với con sông vừa trở thành phép kiểm chứng độc lập cho máy móc của cậu. Nếu cả hai cùng sai theo một hướng, vấn đề nằm ở dòng nước.
“可两边都在告诉我们同一件事。”亚历克斯答道。他再也无法安慰自己说 Cyber Boat 的传感器只是坏了。那些一辈子生活在这条河上的人所做的观察,已经成了对机器测量的一次独立验证。如果两种方法都指向同一个异常,那问题就在水本身。
“그런데 둘 다 같은 말을 하고 있어.” 알렉스가 답했다. 이제는 Cyber Boat 센서가 고장 났을 뿐이라고 스스로를 달랠 수 없었다. 평생 이 강과 함께 살아온 사람들의 관찰이 그의 기계를 독립적으로 검증해 준 셈이었다. 두 방식이 같은 방향의 이상을 보여 준다면 문제는 물 자체에 있었다.
P33
CHAPTER 6 DÒNG SÔNG NÓI DỐI
PAGE 34 / 62
At that moment, a naval scout rushed into the tent and dropped to his knees. "Your Highness! Riders from the estuary report that the high water still refuses to fall—the current is hesitating, almost standing still! Omar's warships have left the narrow reach and are moving downstream toward the ambush ground!"
Đúng lúc đó, một người lính trinh sát thủy quân hớt hải chạy vào quỳ rạp xuống đất: “Khởi bẩm Đại Vương! Thám mã từ cửa biển báo về: nước lớn vẫn chưa chịu rút, dòng chảy ngập ngừng đứng im! Chiến thuyền của Ô Mã Nhi đã rời khỏi khúc sông hẹp, đang xuôi dòng tiến vào bãi mai phục!”
就在这时,一名水军斥候气喘吁吁地冲进帐中,跪倒在地。“殿下!入海口的探马回报:大水迟迟不退,水流几乎停住了!乌马儿的战船已经离开狭窄河段,正顺流朝伏击水域而来!”
그때 수군 정찰병 한 명이 숨을 몰아쉬며 천막 안으로 뛰어들어 무릎을 꿇었다. “대왕님! 하구에서 온 전령이 보고했습니다. 높은 물이 아직 빠지지 않고, 흐름은 거의 멈춰 있습니다! 오마르의 전함들이 좁은 수로를 벗어나 하류의 매복 지대로 내려오고 있습니다!”
The generals went pale. The entire Bạch Đằng battle plan rested on a single variable: lure the enemy's massive war fleet across the stake field while the tide was high enough to cover it, then let the falling water expose the stakes so they could rip through the hulls and destroy the enemy's route of retreat.
Sắc mặt của các tướng lĩnh lập tức tái mét. Toàn bộ thế trận của trận Bạch Đằng được xây dựng dựa trên một biến số duy nhất: nhử đoàn thuyền chiến khổng lồ của giặc vào bãi cọc khi nước lớn ngập sâu, và khi thủy triều rút cạn, rừng cọc nhô lên sẽ đâm thủng đáy thuyền địch, bẻ gãy toàn bộ đường rút lui.
将领们的脸色瞬间变白。整场白藤江之战的计划都建立在一个关键变量上:趁涨潮时把敌方庞大的舰队诱进水下木桩区,等潮水退去,让尖桩露出水面,刺穿船底,彻底切断敌军撤退路线。
장수들의 얼굴이 순식간에 창백해졌다. 박당강 전투의 전체 계획은 하나의 핵심 변수에 달려 있었다. 물이 높을 때 적의 거대한 함대를 수중 말뚝 지대로 유인한 뒤, 조수가 빠지면서 말뚝이 드러나 적선 바닥을 꿰뚫고 퇴로를 완전히 끊는 것이었다.
If the water did not fall by noon, the enemy ships would glide safely over the stake tips, and Đại Việt's much smaller ambush force would be crushed by the enemy's enormous fleet. "Is it your unnatural machine that has polluted the river's dragon vein?"
Nếu nước không rút theo đúng giờ Ngọ, thuyền giặc sẽ lướt qua đỉnh cọc an toàn, và toàn bộ đội quân mai phục nhỏ bé của Đại Việt sẽ bị hạm đội khổng lồ của địch nghiền nát! “Có phải do cỗ máy quái dị của các ngươi làm ô uế long mạch con sông không?”
如果到正午水位还不下降,敌船就会安全滑过木桩尖端,而大越规模小得多的伏兵将被敌方庞大舰队彻底碾碎。“是不是你们那台怪异机器污染了这条河的龙脉?”
정오까지 물이 빠지지 않으면 적선은 말뚝 끝을 안전하게 넘어갈 것이고, 훨씬 작은 다이비엣의 매복군은 적의 거대한 함대에 짓눌리고 말 것이다. “그대들의 기괴한 기계가 강의 용맥을 더럽힌 것이냐?”
P34
CHAPTER 6 DÒNG SÔNG NÓI DỐI
PAGE 35 / 62
One officer drew his sword and pointed it straight at Alex's chest. Alex flinched. His first thought was that the Cyber Boat itself might have caused the anomaly. If its propulsion system or power core was affecting the river, then the boys' arrival might have accidentally changed something that was supposed to happen.
Một viên tướng rút gươm chỉ thẳng vào ngực Alex. Alex giật mình. Khả năng đầu tiên cậu nghĩ tới là chính Cyber Boat đã gây ra sai lệch. Nếu hệ thống đẩy hoặc lõi năng lượng của nó tác động đến dòng nước, sự xuất hiện của hai đứa có thể đã vô tình làm thay đổi điều vốn phải xảy ra.
一名将领拔剑,剑尖直指亚历克斯胸口。亚历克斯猛地一惊。他第一个想到的可能性,就是异常也许真由 Cyber Boat 自身引起。如果推进系统或能源核心影响了水流,那么两个男孩的到来,可能已经无意间改变了原本应该发生的历史。
장수 한 명이 칼을 뽑아 알렉스의 가슴을 곧장 겨눴다. 알렉스가 움찔했다. 가장 먼저 떠오른 가능성은 Cyber Boat 자체가 이상 현상을 일으켰다는 것이었다. 추진 시스템이나 동력 코어가 물의 흐름에 영향을 줬다면 두 아이의 등장이 원래 일어나야 할 일을 무심코 바꿔 버렸을 수도 있었다.
But Alex did not yet have enough evidence to know, and that uncertainty made him even more desperate. "Please let me check again!" he pleaded with Trần Quốc Tuấn. "If our boat is causing this, I'll use every bit of its power to shut the effect down immediately!" Trần Quốc Tuấn looked at Alex, then at the graph he could not fully interpret himself.
Nhưng cậu chưa có dữ liệu để kết luận, và chính sự thiếu chắc chắn ấy khiến cậu càng sốt ruột. “Cho cháu kiểm tra lại!” Alex khẩn khoản nhìn Trần Quốc Tuấn. “Nếu là do tàu của chúng cháu gây ra, cháu sẽ dùng toàn bộ năng lượng để vô hiệu hóa nó ngay lập tức!” Trần Quốc Tuấn nhìn Alex rồi nhìn đồ thị mà ông không thể tự đọc hết.
可他还没有足够证据得出结论,而这种不确定反而让他更加焦急。“请让我再检查一次!”亚历克斯恳求陈国峻。“如果真是我们的船造成的,我会用它全部能量立刻把影响消除!”陈国峻看了看亚历克斯,又看向那张他自己无法完全读懂的图表。
하지만 아직 결론을 내릴 만큼 증거가 없었고, 그 불확실성이 오히려 알렉스를 더 다급하게 만들었다. “다시 확인하게 해 주세요!” 알렉스가 쩐꾸옥뚜언에게 간청했다. “정말 저희 배가 원인이라면 모든 에너지를 써서 즉시 그 영향을 없애겠습니다!” 쩐꾸옥뚜언은 알렉스를 보고 자신이 완전히 이해할 수 없는 그래프를 바라봤다.
He did not offer blind trust. "I will give you one chance to prove what you say. Give them back the equipment they need, send troops with them, and pull the iron vessel back into the water. If you find the cause, report at once. If you attempt any trick, my men will be there before you can escape."
Ông không trao niềm tin vô điều kiện. “Ta cho các ngươi một cơ hội kiểm tra lời mình nói. Trả lại đồ nghề cần thiết, cử quân đi kèm và kéo con thuyền sắt xuống nước. Nếu tìm được nguyên nhân, báo lại ngay. Nếu các ngươi giở trò, quân của ta sẽ ở đó trước khi các ngươi kịp chạy.”
他并没有无条件相信他们。“我给你们一次证明自己所言的机会。把他们需要的器材还给他们,派兵随行,把那艘铁船拖回水里。若找到原因,立刻回来禀报。若敢耍花样,我的人会在你们逃走之前先到。”
그는 무조건적인 신뢰를 주지 않았다. “그대들의 말을 증명할 기회를 한 번 주겠다. 필요한 장비를 돌려주고 병사를 붙여 철선을 다시 물로 끌어내라. 원인을 찾으면 즉시 보고하라. 수작을 부린다면 그대들이 달아나기도 전에 내 병사들이 먼저 닿을 것이다.”
P35
CHAPTER 6 DÒNG SÔNG NÓI DỐI
PAGE 36 / 62
Their restraints were removed. Alex and Jack adjusted their Gable Glass and were given back the iPad and the equipment needed for the investigation; the Trần soldiers kept the rest. More than thirty men pushed the Cyber Boat free of the mud and returned it to the channel under armed supervision.
Dây trói được tháo. Alex và Jack chỉnh lại Gable Glass, nhận lại iPad cùng những thiết bị cần cho việc kiểm tra; phần còn lại vẫn do quân Trần giữ. Hơn ba mươi quân sĩ cùng đẩy Cyber Boat khỏi bãi bùn, đưa nó trở lại lạch nước dưới sự giám sát của một toán lính.
绳索被解开。亚历克斯和杰克重新调整好 Gable Glass,拿回 iPad 以及检查所需的设备,其余物品仍由陈军保管。三十多名士兵合力把 Cyber Boat 从泥地里推出去,在一队武装士兵监视下重新送回水道。
포박이 풀렸다. 알렉스와 잭은 Gable Glass를 바로 쓰고, 조사에 필요한 iPad와 장비를 돌려받았다. 나머지는 쩐군이 계속 보관했다. 서른 명이 넘는 병사들이 함께 Cyber Boat를 진흙에서 밀어내고 무장한 병력의 감시 아래 다시 물길로 옮겼다.
The boys rushed into the cockpit and slammed the canopy shut. "Activate multi-layer sonar scan of the riverbed!" Alex ordered. A three-dimensional image of the Bạch Đằng river bottom filled the panoramic screen. He let out a breath of relief when the data showed that the Cyber Boat's propulsion system was not responsible: its magnetic leakage extended less than three meters.
Hai đứa trẻ lao vào buồng lái, đóng sầm cửa canopy lại. “Khởi động sonar quét đa tầng đáy sông!” Alex ra lệnh. Màn hình toàn cảnh hiện lên hình ảnh ba chiều của lòng sông Bạch Đằng. Alex thở phào một cái khi thấy hệ thống động cơ của Cyber Boat hoàn toàn vô can: từ trường rò rỉ chỉ có bán kính chưa đầy ba mét.
两个男孩冲进驾驶舱,砰地关上 canopy。“启动多层河床声呐扫描!”亚历克斯下令。全景屏幕立刻显示出白藤江河底的三维图像。看到数据后,他终于松了口气:Cyber Boat 的推进系统并非元凶,其磁场泄漏范围还不到三米。
두 아이는 조종석으로 뛰어들어 canopy를 쾅 닫았다. “강바닥 다층 소나 스캔 시작!” 알렉스가 명령했다. 파노라마 화면에 박당강 바닥의 3차원 영상이 펼쳐졌다. 데이터를 본 알렉스는 안도의 숨을 내쉬었다. Cyber Boat 추진 시스템은 원인이 아니었다. 자기장 누설 범위는 3미터도 되지 않았다.
Then the sonar revealed something terrifying. Fifteen meters beneath the riverbed, buried in mud among the roots of ancient trees, three jet-black prism-shaped devices were pulsing with flickers of violet light.
Nhưng ngay sau đó, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trên màn hình quét siêu âm: Ở độ sâu mười lăm mét dưới đáy sông, cắm ngập giữa lớp bùn lầy và rễ cây cổ thụ, ba khối thiết bị hình lăng trụ màu đen tuyền đang phát ra những vòng sáng tím lập lòe.
可紧接着,声呐画面显示出令人毛骨悚然的景象:在河床以下十五米处,深埋于淤泥和古树根系之间,三台漆黑的棱柱形装置正闪烁着紫色光芒。
하지만 곧 소나 화면에 소름 끼치는 장면이 나타났다. 강바닥 아래 15미터, 진흙과 오래된 나무 뿌리 사이 깊숙이 묻힌 세 개의 새까만 프리즘형 장치가 보랏빛을 깜빡이며 맥동하고 있었다.
P36
CHAPTER 6 DÒNG SÔNG NÓI DỐI
PAGE 37 / 62
They were releasing powerful infrasonic waves, creating an enormous field of microscopic pressure that was holding back the river's natural flow toward the sea. "A NEXUS node network!" Jack shouted, pointing at the display.
Chúng đang giải phóng những luồng sóng hạ âm cực mạnh, tạo thành một trường áp lực vi mô khổng lồ chặn đứng dòng chảy tự nhiên của nước sông đổ ra biển! “Mạng lưới node của NEXUS!” Jack hét lên, chỉ tay vào màn hình.
它们正在释放强烈的次声波,制造出一个巨大的微观压力场,硬生生阻挡河水自然向海流去!“NEXUS 节点网络!”杰克指着屏幕大喊。
장치들은 강력한 초저주파를 방출해 거대한 미세 압력장을 만들고 있었고, 강물이 자연스럽게 바다로 흘러가는 걸 억지로 막고 있었다. “NEXUS 노드 네트워크야!” 잭이 화면을 가리키며 외쳤다.
"That energy blast earlier wasn't aimed at the boat. It planted these three machine-stakes in the riverbed to sabotage the tide!" Jack pointed to the three black signals below them. "So NEXUS may not be trying to ruin the battle itself. Maybe it's trying to do something to the Cyber Boat, and these things are either a side effect or tools it left behind."
“Chùm năng lượng bắn tụi mình lúc nãy không phải nhằm vào tàu, nó cấy ba cái cọc máy này xuống đáy sông để phá hủy con nước!” Jack chỉ vào ba tín hiệu đen dưới đáy sông. “Vậy NEXUS không nhất thiết muốn phá trận đánh. Nó đang cố làm gì đó với Cyber Boat, còn mấy thứ này là hậu quả hoặc là công cụ nó để lại.”
“刚才那道能量束根本不是冲着船来的。它把这三根机器桩植进河床,就是为了破坏潮汐!”杰克指着河底三个黑色信号。“所以 NEXUS 不一定是在故意毁掉这场战斗。也许它真正想做的是对 Cyber Boat 下手,而这些东西只是副作用,或者是它留下的工具。”
“아까 그 에너지 공격은 배를 노린 게 아니었어. 이 기계 말뚝 세 개를 강바닥에 박아서 조수를 망가뜨린 거야!” 잭이 강바닥의 검은 신호 세 개를 가리켰다. “그러니까 NEXUS가 전투 자체를 망치려는 건 아닐 수도 있어. Cyber Boat에 뭔가 하려는 중이고, 이것들은 부작용이거나 남겨 둔 도구일지도 몰라.”
Alex nodded but did not rush to decide the enemy's motive. "Whatever it wants, those three devices are forcing the river out of rhythm. If we leave them there, everything happening on the surface will be affected." He pulled out the diving gear. "We go down, see what they are, and shut them off first."
Alex gật, không vội kết luận động cơ của đối phương. “Dù mục tiêu của nó là gì, ba thiết bị này đang giữ dòng nước sai nhịp. Nếu mình để mặc, mọi thứ trên mặt sông sẽ bị ảnh hưởng.” Cậu kéo bộ đồ lặn ra. “Xuống xem. Tắt chúng trước đã.”
亚历克斯点了点头,却没有急着判断敌人的真正目的。“不管它想做什么,这三台装置正在强行打乱河流节奏。放着不管,水面上的一切都会受到影响。”他拉出潜水装备。“下去看看。先把它们关掉。”
알렉스는 고개를 끄덕였지만 상대의 목적을 섣불리 단정하지 않았다. “무슨 목적이든 저 세 장치가 강의 리듬을 억지로 망가뜨리고 있어. 그냥 두면 수면 위에서 벌어지는 모든 일이 영향을 받을 거야.” 그는 잠수 장비를 꺼냈다. “내려가서 확인하자. 우선 전부 꺼.”
P37
CHAPTER 7 TRẬN CHIẾN THỨ HAI DƯỚI MẶT NƯỚC
PAGE 38 / 62
Two ash-gray nano diving suits sealed tightly around their bodies. Alex and Jack stepped through the pressure chamber at the stern and slipped into the silt-choked water of the Bạch Đằng River. Visibility underwater was almost zero. The current was thick with swirling red sediment; without the Gable Glass's enhanced thermal-optical filters, the boys would have been swimming through darkness nearly blind.
Hai bộ đồ lặn nano màu xám tro ôm khít lấy cơ thể. Alex và Jack bước qua khoang điều áp ở đuôi tàu rồi trượt thẳng xuống dòng nước đục ngầu phù sa của sông Bạch Đằng. Tầm nhìn dưới nước gần như bằng không. Nước sông nặng trĩu hạt cát đỏ quạch cuộn xiết, nếu không có bộ lọc tăng cường quang học nhiệt của kính Gable Glass, hai đứa sẽ chẳng khác nào những kẻ mù lòa bơi lội trong bóng đêm.
两套灰黑色纳米潜水服紧密包裹住身体。亚历克斯和杰克穿过船尾加压舱,滑进白藤江满是泥沙的浑浊河水。水下能见度几乎为零,红褐色沉积物在急流中翻滚。若没有 Gable Glass 的增强热光学滤镜,他们几乎等于在黑暗中闭着眼游泳。
두 벌의 잿빛 나노 잠수복이 몸에 밀착되었다. 알렉스와 잭은 선미의 압력실을 지나 흙탕물로 가득한 박당강 속으로 미끄러져 들어갔다. 수중 시야는 거의 0에 가까웠다. 붉은 퇴적물이 급류 속에서 소용돌이쳤다. Gable Glass의 강화 열광학 필터가 없었다면 눈을 감고 어둠 속을 헤엄치는 것이나 마찬가지였을 것이다.
The deeper they descended, the stranger and more magnificent the scene became. Thousands of huge ironwood and sến stakes had been driven deep into the riverbed at roughly forty-five-degree angles, their iron-capped points aimed upward like a vast hidden forest of spears and swords beneath the water.
Càng lặn sâu xuống đáy, khung cảnh càng trở nên kỳ vĩ và ma mị: hàng ngàn thân cọc gỗ lim, sến khổng lồ cắm nghiêng góc bốn mươi lăm độ ngập sâu vào bùn đất, đầu cọc bịt sắt sắc lẹm chĩa thẳng lên trời như một rừng gươm giáo khổng lồ giấu mình dưới lòng sông.
潜得越深,景象越诡异而壮观。成千上万根巨大的铁木和 sến 木桩以大约四十五度角深深打进河床,顶部包着锋利的铁尖,全部斜指向上,宛如一片隐藏在水下的巨大枪剑之林。
더 깊이 내려갈수록 광경은 더 기묘하고 장엄해졌다. 수천 개의 거대한 철목과 sến 말뚝이 약 45도 각도로 강바닥 깊숙이 박혀 있었다. 끝에는 날카로운 쇠촉이 씌워져 위를 향했고, 물속에 숨은 거대한 창과 칼의 숲처럼 보였다.
And in the deepest part of the stake field, three glossy black NEXUS prisms trembled violently, pulsing with eerie violet light. When Alex swam to within about five meters of the nearest node, the mud on the riverbed suddenly exploded. An autonomous NEXUS defense machine erupted from beneath the silt.
Và ở giữa một bãi cọc sâu nhất, ba cột lăng trụ đen bóng của NEXUS đang rung lên bần bật, phát ra thứ ánh sáng tím ma quái. Khi Alex bơi tới cách cái node gần nhất chừng năm mét, lớp bùn đáy sông bỗng nhiên nổ tung! Một cỗ máy phòng thủ tự hành của NEXUS trồi lên từ lòng đất bùn.
而在最深的一片木桩区中央,三根乌黑发亮的 NEXUS 棱柱正剧烈震动,发出幽异紫光。亚历克斯游到离最近节点大约五米处时,河床淤泥突然炸开!一台 NEXUS 自主防御机器从泥层下猛然钻出。
그리고 가장 깊은 말뚝 지대 한가운데에는 세 개의 반짝이는 검은 NEXUS 프리즘이 심하게 떨리며 섬뜩한 보랏빛을 내뿜고 있었다. 알렉스가 가장 가까운 노드에서 약 5미터 거리까지 접근하자 강바닥 진흙이 갑자기 폭발하듯 터졌다. NEXUS 자율 방어 기계가 퇴적층 아래에서 솟구쳤다.
P38
CHAPTER 7 TRẬN CHIẾN THỨ HAI DƯỚI MẶT NƯỚC
PAGE 39 / 62
It looked like a giant mechanical scorpion made of black alloy. Its nano-steel pincers, sharp as surgical blades, swept through the water and snapped straight toward Alex's chest. "Look out!" Jack lunged forward and slammed into Alex's side, knocking him out of the way.
Nó có hình dạng một con bọ cạp cơ khí khổng lồ bằng hợp kim đen bóng, đôi càng bằng thép nano sắc như dao mổ vung lên xé rách dòng nước, nhắm thẳng vào ngực Alex mà kẹp tới! “Coi chừng!” Jack lao tới tông mạnh vào hông Alex, đẩy bạn mình dạt sang một bên.
它像一只由黑色合金打造的巨型机械蝎子。两只纳米钢钳锋利得像手术刀,劈开水流,直奔亚历克斯胸口夹去。“小心!”杰克猛冲过来,用肩膀撞向亚历克斯,把他撞到一旁。
그것은 검은 합금으로 만든 거대한 기계 전갈처럼 생겼다. 수술칼처럼 날카로운 나노강 집게가 물을 가르며 알렉스의 가슴을 향해 덮쳤다. “조심해!” 잭이 뛰어들어 알렉스 옆구리를 세게 밀쳐 옆으로 날려 보냈다.
A metal claw skimmed Jack's shoulder and sliced clean through a section of the diving suit's outer protective padding. The machine moved with terrifying agility underwater. Its tail rose upright, gathering a green electrical pulse and preparing to fire. In the cramped underwater maze, there was nowhere to simply turn and flee.
Lưỡi càng kim loại sượt qua vai Jack, cắt đứt ngọt xớt một mảng đệm bảo hộ ngoài bộ đồ lặn. Con bọ cạp máy xoay sở dưới nước cực kỳ linh hoạt. Đuôi của nó dựng đứng lên, tích tụ một luồng xung điện màu xanh lét chuẩn bị phóng ra. Trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc, không gian hẹp dưới nước khiến việc tháo chạy là bất khả thi.
一只金属钳擦过杰克肩膀,干净利落地切掉潜水服外层的一块防护垫。机械蝎子在水下灵活得可怕。它竖起尾部,聚集起一团绿色电脉冲,准备发射。在这片狭窄的水下迷宫里,他们根本没有转身逃走的空间。
금속 집게가 잭의 어깨를 스치며 잠수복 바깥 보호 패드 한 부분을 깔끔하게 잘라 냈다. 기계 전갈은 물속에서도 무서울 만큼 민첩했다. 꼬리가 곧게 치켜 올라가며 초록색 전기 펄스를 모으기 시작했다. 좁은 수중 미로에서는 몸을 돌려 달아날 공간조차 없었다.
Then the lesson of the tiger and the two wild boars, together with Jane Goodall's advice, flashed through Alex's mind: don't match strength with a predator. Use terrain and timing. "Jack! Back toward the densest part of the stake field!" Alex shouted through the ultrasonic communicator in his collar. "It's too big. Those hydraulic joints need open space!"
Nhưng bài học từ cuộc đối đầu giữa hổ và hai con heo rừng, cùng lời dặn của Jane Goodall bỗng rực sáng trong tâm trí Alex: Đừng đấu sức với kẻ săn mồi! Hãy dùng địa hình và thời điểm! “Jack! Bơi lùi về phía bãi cọc gỗ dày nhất!” Alex hét lớn qua hệ thống liên lạc siêu âm gắn trong cổ áo. “Kích thước nó quá lớn, các khớp thủy lực cần không gian mở!”
就在这时,老虎与两头野猪的教训,加上珍·古道尔的提醒,同时在亚历克斯脑中闪过:别和捕食者硬拼力量。利用地形和时机。“杰克!往木桩最密的地方退!”亚历克斯通过衣领里的超声波通信器大喊。“它体型太大,液压关节需要开阔空间!”
그 순간 호랑이와 두 멧돼지에게서 얻은 교훈, 그리고 제인 구달의 조언이 알렉스 머릿속에서 동시에 번쩍였다. 포식자와 힘으로 맞서지 마라. 지형과 타이밍을 이용하라. “잭! 말뚝이 가장 빽빽한 곳으로 뒤로 가!” 알렉스가 목깃의 초음파 통신기를 통해 외쳤다. “저건 너무 커. 유압 관절이 움직이려면 넓은 공간이 필요해!”
P39
CHAPTER 7 TRẬN CHIẾN THỨ HAI DƯỚI MẶT NƯỚC
PAGE 40 / 62
Jack understood immediately. He frog-kicked backward, twisted, and slipped through a narrow gap between two ironwood stakes as thick as his thigh. The mechanical scorpion charged after him like an underwater arrow. Its own momentum and oversized pincers betrayed it. The machine slammed straight into the dense lattice of wooden stakes, metal shrieking against wood.
Jack hiểu ý ngay lập tức. Cậu quẫy chân nhái, lộn người luồn qua khe hẹp giữa hai thân cọc gỗ lim to bằng bắp đùi. Con bọ cạp máy lao theo điên cuồng như một mũi tên xé nước. Quán tính khổng lồ cùng sải càng quá rộng đã phản bội nó: thân máy đâm sầm vào giữa mạng lưới cọc gỗ ken dày đặc. KÍTTT!
杰克立刻明白。他向后做蛙泳踢腿,扭身从两根粗如大腿的铁木桩之间狭窄缝隙穿了过去。机械蝎子像一支水下利箭般疯狂追来。巨大的惯性和过宽的双钳反而害了它,机器猛地撞进密集木桩形成的格网中,金属与木头摩擦出刺耳尖叫。
잭은 즉시 뜻을 알아챘다. 뒤로 개구리차기를 하며 몸을 비틀어 허벅지만큼 굵은 철목 말뚝 두 개 사이의 좁은 틈으로 빠져나갔다. 기계 전갈은 수중 화살처럼 미친 듯 따라왔다. 하지만 큰 관성과 지나치게 넓은 집게가 오히려 발목을 잡았다. 기계는 빽빽한 나무 말뚝 그물망에 정면으로 처박혔고 금속이 나무를 긁는 날카로운 소리가 울렸다.
Its rigid metal claws wedged solidly between two mud-slick ironwood trunks. The more it struggled, the tighter it trapped itself. One of the sharp iron tips from the Trần-era stakes punched through the composite shell at its hip joint, releasing a violent stream of hydraulic bubbles.
Hai chiếc càng kim loại cứng nhắc bị kẹt cứng giữa hai thân gỗ lim ngâm bùn trơn tuột. Càng giãy giụa, con bọ cạp cơ khí càng tự ép mình dính chặt vào các thân cọc. Mũi sắt nhọn hoắt thời Trần đâm thủng lớp vỏ composite ở khớp hông của nó, xì ra những chuỗi bọt khí thủy lực xối xả.
两只僵硬的金属钳死死卡在两根沾满泥的铁木桩之间。它挣扎得越厉害,反而把自己夹得越紧。一根陈朝时代的锋利铁桩尖刺穿了它髋部关节的复合材料外壳,液压液形成一串串猛烈气泡喷涌而出。
딱딱한 금속 집게 두 개가 진흙 묻은 철목 말뚝 사이에 완전히 끼었다. 발버둥칠수록 스스로 더 단단히 갇혔다. 쩐 왕조 시대 말뚝의 날카로운 쇠촉 하나가 엉덩이 관절의 복합재 외피를 뚫었고, 유압계통에서 거센 기포가 연달아 뿜어져 나왔다.
"Now, Alex!" Jack shouted. Alex swam behind the machine, drew his personal defensive pulse weapon, and pressed it against the cracked opening in the damaged tail joint. ZZZAP! A brilliant blue bolt flashed beneath the water. The scorpion's control circuits convulsed, then went completely dark, leaving a dead hunk of metal jammed among the ancient wooden stakes.
“Bây giờ Alex!” Jack hét lên. Alex bơi vòng ra sau lưng cỗ máy, rút súng xung điện phòng vệ cá nhân dí thẳng vào khe nứt ở khớp đuôi bị thủng. XOÈ! Một tia sét xanh biếc bùng nổ dưới đáy nước. Hệ thống mạch điều khiển của con bọ cạp máy co giật dữ dội rồi tắt ngấm hoàn toàn, biến thành một khối sắt vụn bất động kẹt chặt giữa những thân gỗ của người xưa.
“现在,亚历克斯!”杰克大喊。亚历克斯游到机器背后,拔出个人防御脉冲武器,直接抵住受损尾部关节的裂口。滋——!一道明亮的蓝色电弧在水下炸开。机械蝎子的控制电路猛烈抽搐,随即彻底熄灭,只剩下一块毫无反应的废铁,死死卡在古人的木桩之间。
“지금이야, 알렉스!” 잭이 외쳤다. 알렉스는 기계 뒤쪽으로 헤엄쳐 개인 방어용 펄스 무기를 꺼내 손상된 꼬리 관절의 갈라진 틈에 바짝 댔다. 지지직! 선명한 푸른 전류가 물속에서 번쩍였다. 기계 전갈의 제어 회로가 격렬하게 경련하더니 완전히 꺼졌다. 남은 것은 옛 말뚝 사이에 꽉 끼인 움직이지 않는 고철 덩어리뿐이었다.
P40
CHAPTER 7 TRẬN CHIẾN THỨ HAI DƯỚI MẶT NƯỚC
PAGE 41 / 62
Without wasting a second, Alex and Jack rushed to the three NEXUS prisms. Alex connected the military iPad to a signal port and launched the infrasonic phase-inversion routine he had prepared. OFF! OFF! OFF! The three violet rings died one after another. The invisible pressure field that had been imprisoning the river collapsed completely.
Không chậm trễ một giây, Alex và Jack lao tới ba khối lăng trụ NEXUS. Alex cắm cổng kết nối từ iPad quân sự vào khe đọc tín hiệu, chạy chuỗi thuật toán đảo pha sóng hạ âm mà cậu đã chuẩn bị sẵn. TẮT! TẮT! TẮT! Ba vòng sáng tím lần lượt lịm đi. Trường áp lực vô hình giam giữ dòng nước sụp đổ hoàn toàn.
亚历克斯和杰克一秒也没耽搁,立刻冲向三根 NEXUS 棱柱。亚历克斯把军用 iPad 接入信号端口,启动早已准备好的次声波反相算法。关闭!关闭!关闭!三道紫色光环依次熄灭。困住河水的无形压力场彻底崩溃。
알렉스와 잭은 1초도 지체하지 않고 세 개의 NEXUS 프리즘으로 돌진했다. 알렉스는 군용 iPad를 신호 포트에 연결하고 미리 준비해 둔 초저주파 위상 반전 알고리즘을 실행했다. OFF! OFF! OFF! 보랏빛 고리 세 개가 차례로 꺼졌다. 강물을 가두고 있던 보이지 않는 압력장이 완전히 무너졌다.
Gravity and the natural laws of the ocean reasserted themselves with tremendous force. Millions of cubic meters of Bạch Đằng water surged toward the sea like a broken dam. The tide finally receded, exactly as the historical plan required. The boys kicked upward and grabbed the side ladder of the Cyber Boat. By the time they surfaced, the river had already changed.
Trọng lực và quy luật tự nhiên của đại dương trỗi dậy mạnh mẽ: hàng triệu mét khối nước sông Bạch Đằng ào ào đổ dồn về phía biển như một con đê vỡ! Con nước triều đã rút cạn theo đúng kế hoạch lịch sử! Hai đứa trẻ đạp nước ngoi lên, bám vào thang mạn của chiếc Cyber Boat. Khi hai đứa ngoi lên, mặt sông đã đổi khác.
重力和海洋的自然规律以惊人的力量重新掌控一切。数百万立方米的白藤江水像决堤洪流般奔向大海。潮水终于按历史计划应有的节奏退了下去。两个男孩奋力向上游,抓住 Cyber Boat 侧面的扶梯。等他们浮出水面,整条河已经变了模样。
중력과 바다의 자연 법칙이 엄청난 힘으로 다시 작동하기 시작했다. 수백만 세제곱미터의 박당강 물이 둑이 터진 것처럼 바다를 향해 쏟아졌다. 조수는 역사적 계획대로 마침내 빠졌다. 두 아이는 힘껏 위로 헤엄쳐 Cyber Boat 옆 사다리를 붙잡았다. 수면 위로 올라왔을 때 강의 모습은 이미 완전히 달라져 있었다.
The water dropped fast enough to expose the tops of stakes that had been hidden moments before. Drums, horns, and shouted orders rose from every direction. Alex did not need the Gable Glass to tell him the battle had entered a new phase. The retreating tide revealed an entire forest of sharpened stakes jutting from the mud like a gigantic bed of spikes.
Nước rút nhanh để lộ những đầu cọc vốn chìm dưới mặt nước; tiếng trống, tiếng tù và và tiếng người gọi nhau dồn dập từ nhiều hướng. Alex không cần Gable Glass giải thích rằng trận đánh đã bước sang một giai đoạn khác. Nước rút cực nhanh làm lộ ra cả một rừng cọc nhọn hoắt nhô lên khỏi mặt bùn như bàn chông khổng lồ.
水位迅速下降,刚才还淹在水下的木桩尖端一根根露了出来。鼓声、号角声和此起彼伏的喊声从四面八方涌来。亚历克斯根本不需要 Gable Glass 提醒,也知道战斗已经进入新的阶段。退潮让整片锋利木桩林从泥中显现,仿佛一张巨大无比的尖刺床。
물이 빠르게 내려가며 조금 전까지 잠겨 있던 말뚝 끝들이 드러났다. 사방에서 북소리와 뿔나팔, 외치는 명령이 한꺼번에 들려왔다. 알렉스는 Gable Glass의 설명이 없어도 전투가 새로운 단계로 들어갔다는 걸 알 수 있었다. 빠져나가는 물은 진흙 위로 솟은 날카로운 말뚝 숲 전체를 드러냈다. 거대한 가시 침대 같았다.
P41
CHAPTER 7 TRẬN CHIẾN THỨ HAI DƯỚI MẶT NƯỚC
PAGE 42 / 62
Hundreds of large, cumbersome Mongol-Yuan warships were retreating in confusion, only to be driven by the fast current straight into the stake field. Enemy hulls split open, bottoms were pierced, rudders snapped, and ships rolled into one another before sinking. Horns and bronze drums thundered across the river.
Hàng trăm chiến thuyền to lớn, cồng kềnh của quân xâm lược Nguyên Mông đang tháo lui hỗn loạn, bị dòng nước xiết đẩy thẳng vào bãi cọc. Thuyền giặc vỡ toác mạn, thủng đáy, gãy bánh lái, nghiêng ngả đè lên nhau rồi chìm dần. Tiếng tù và, tiếng trống đồng vang dội non sông.
数百艘庞大笨重的蒙元战船正在混乱撤退,却被迅猛水流直接推入木桩区。敌船船舷被撕开,船底被刺穿,舵折断,彼此倾斜碰撞,随后一艘接一艘沉没。号角与铜鼓的声音震荡整条江面。
수백 척의 크고 둔중한 몽골-원 전함이 혼란스럽게 퇴각했지만, 거센 물살에 밀려 그대로 말뚝 지대로 들어갔다. 적선의 옆구리가 찢기고 바닥이 뚫렸으며 방향타가 부러졌다. 배들은 서로 기울어 충돌하다 하나둘 가라앉았다. 뿔나팔과 청동 북소리가 강 전체를 뒤흔들었다.
Thousands of Đại Việt soldiers, many bearing the tattooed words "Sát Thát" on their arms, surged from the branching waterways to encircle and destroy the invaders. Across Alex's Gable Glass, the tactical support system suddenly flashed: TACTICAL TARGETING: READY. MISSILE LOCK ON ENEMY FLAGSHIPS. Alex drew a long breath and reached up to shut ACTION mode off.
Hàng ngàn chiến sĩ Đại Việt với hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay từ các nhánh sông đồng loạt lao thuyền ra bao vây tiêu diệt giặc thù. Trên kính Gable Glass của Alex, hệ thống hỗ trợ chiến thuật bỗng chớp sáng: TACTICAL TARGETING: READY. MISSILE LOCK ON ENEMY FLAGSHIPS. Alex hít một hơi thật sâu, vươn tay tắt phụt chế ACTION ….
成千上万名大越士兵从支流水道同时冲出,许多人手臂上刺着“杀鞑”二字,开始包围并歼灭侵略军。亚历克斯的 Gable Glass 上,战术辅助系统忽然闪烁:TACTICAL TARGETING: READY. MISSILE LOCK ON ENEMY FLAGSHIPS. 亚历克斯深吸一口气,抬手关闭 ACTION 模式。
수천 명의 다이비엣 병사들이 여러 지류에서 동시에 쏟아져 나와 침략군을 포위하고 격파하기 시작했다. 많은 병사들의 팔에는 ‘Sát Thát’ 두 글자가 새겨져 있었다. 알렉스의 Gable Glass에 전술 지원 시스템이 갑자기 점멸했다. TACTICAL TARGETING: READY. MISSILE LOCK ON ENEMY FLAGSHIPS. 알렉스는 깊게 숨을 들이쉰 뒤 손을 뻗어 ACTION 모드를 껐다.
"Turn it off," Alex said. "We fixed what NEXUS disrupted. This battle belongs to the people of this time." "Then what do we do now?" Jack looked across the river at shattered timbers and people struggling in the violent current. "What Hưng Đạo Vương told us: save people."
“Tắt đi,” Alex nói. “Mình vừa sửa thứ NEXUS làm sai. Còn trận đánh này là của những người ở thời đại này.” “Vậy tụi mình làm gì bây giờ?” Jack nhìn quanh mặt sông đầy những mảnh gỗ vỡ và những bóng người đang chới với giữa dòng nước xiết. “Làm điều Hưng Đạo Vương đã nói: cứu người”.
“关掉。”亚历克斯说。“我们只是修正了 NEXUS 扰乱的东西。至于这场战争,它属于这个时代的人。” “那我们现在做什么?”杰克望向河面,那里漂满断木,也有人在激流中挣扎。“做兴道王说过的事:救人。”
“꺼.” 알렉스가 말했다. “우린 NEXUS가 망가뜨린 것만 바로잡았어. 이 전투는 이 시대 사람들이 치르는 거야.” “그럼 이제 뭘 하지?” 잭은 부서진 나무와 급류 속에서 허우적대는 사람들을 바라봤다. “흥다오브엉이 말한 걸 하자. 사람을 구하는 거야.”
P42
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 43 / 62
The Cyber Boat switched into rescue mode. Without distinguishing one side from the other, the boys steered along the outer edge of the battlefield, throwing life rings and pulling wounded soldiers from the water before carrying them to safer sandbars.
Chiếc Cyber Boat chuyển sang chế độ cứu nạn. Không phân biệt bên này hay bên kia, hai đứa trẻ lái tàu vòng quanh rìa ngoài chiến trường, quăng phao cứu sinh, vớt những người lính bị thương rơi xuống nước kéo vào những bãi bồi an toàn.
Cyber Boat 切换到救援模式。两个男孩不分敌我,沿战场外围驾驶,抛出救生圈,把落水受伤的士兵拖上船,再送往相对安全的沙洲。
Cyber Boat가 구조 모드로 전환됐다. 두 아이는 어느 편인지 구분하지 않고 전장 바깥쪽을 돌며 구명환을 던지고 물에 빠진 부상자들을 끌어 올린 뒤 비교적 안전한 모래톱으로 옮겼다.
Seeing the young foreign soldiers shivering with cold and fear, Jack quietly shed tears. Even a great victory could carry a terrible price. Then the Cyber Boat's radar picked up a metallic signal moving away from the river mouth.
Nhìn những người lính ngoại bang trẻ măng đang run rẩy vì lạnh và sợ hãi, Jack khẽ rơi nước mắt. Chiến thắng vĩ đại luôn phải trả bằng những cái giá rất đắt. Bỗng nhiên, radar của Cyber Boat bắt được một tín hiệu kim loại đang rời khỏi cửa sông.
看到那些年轻的外国士兵因为寒冷与恐惧不停发抖,杰克悄悄流下了眼泪。哪怕是伟大的胜利,也可能付出极其沉重的代价。就在这时,Cyber Boat 的雷达捕捉到一个正在离开河口的金属信号。
추위와 공포에 떨고 있는 어린 외국 병사들을 보며 잭은 조용히 눈물을 흘렸다. 아무리 위대한 승리라도 너무 큰 대가를 치를 수 있었다. 그때 Cyber Boat 레이더가 강어귀를 떠나는 금속 신호 하나를 포착했다.
At the same moment, the force field that had scanned the hull while they were stranded returned. This time it was not merely searching. An invisible pull latched onto the Cyber Boat and wrenched its bow toward the open sea. "Hold on! It's pulling the boat!" Jack shouted.
Cùng lúc, trường lực từng quét thân tàu lúc mắc cạn xuất hiện trở lại. Lần này nó không chỉ dò tìm: một lực kéo vô hình bám lấy Cyber Boat, giật mũi tàu xoay về phía cửa biển. “Bám chặt vào! Nó đang kéo tàu!” Jack hét lên.
与此同时,曾在他们搁浅时扫描船体的力场再次出现。这一次,它已经不只是在搜索。某种无形力量牢牢抓住 Cyber Boat,把船头猛地扯向外海。“抓紧!它在拖船!”杰克大喊。
동시에 좌초됐을 때 선체를 훑었던 역장이 다시 나타났다. 이번에는 단순한 탐색이 아니었다. 보이지 않는 힘이 Cyber Boat를 붙잡고 뱃머리를 바다 쪽으로 거칠게 돌렸다. “꽉 잡아! 배를 끌고 있어!” 잭이 외쳤다.
P43
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 44 / 62
The canopy sealed automatically. As the bow was dragged downward, the anti-flood system shifted the Cyber Boat into dive mode. Alex pushed the controls in the opposite direction, but the pull was stronger. The vessel was dragged after the NEXUS signal, out toward the open ocean.
Canopy tự động đóng kín. Hệ thống chống ngập chuyển Cyber Boat sang chế độ lặn khi mũi tàu bị kéo chúi xuống. Alex đẩy cần lái ngược hướng nhưng lực kéo vẫn thắng; con tàu bị lôi theo tín hiệu NEXUS ra biển lớn.
canopy 自动封闭。船头被向下拖时,防进水系统立刻把 Cyber Boat 切换为潜航模式。亚历克斯把控制杆推向反方向,可那股拉力更强。整艘船被 NEXUS 信号牵引着,一路拖向外海。
canopy가 자동으로 닫혔다. 뱃머리가 아래로 끌려가자 침수 방지 시스템이 Cyber Boat를 잠수 모드로 전환했다. 알렉스가 조종 장치를 반대 방향으로 밀었지만 끌어당기는 힘이 더 셌다. 배는 NEXUS 신호에 이끌려 그대로 먼바다로 끌려갔다.
Beyond the windshield, the jade-green water near shore quickly deepened to dark blue, then to an inky black as the Cyber Boat descended into the ocean depths.
Từ màu xanh ngọc bích của vùng biển ven bờ, không gian ngoài cửa kính chắn gió nhanh chóng chuyển sang màu lam thẫm, rồi đen đặc như mực khi con tàu lặn sâu xuống vùng biển thẳm.
挡风玻璃外,近岸海水的翡翠绿色很快变成深蓝,随后随着 Cyber Boat 不断下潜,彻底转为墨汁般的漆黑。
앞유리 너머의 바다는 해안 가까이에서는 옥빛 초록이었지만, Cyber Boat가 점점 깊이 내려가자 짙은 남색으로 변했고 결국 먹물처럼 검게 가라앉았다.
"Depth: six hundred meters... exterior temperature: 4 degrees Celsius... pressure: sixty-one atmospheres," Alex read aloud, both hands locked on the controls. The vessel's high-powered lights illuminated only a narrow halo filled with drifting bioluminescent plankton, like specks of stardust suspended in the vast darkness of space.
“Độ sâu sáu trăm mét… nhiệt độ ngoài vỏ tàu:4 ĐỘ C… áp suất: sáu mươi mốt atmosphere,” Alex đọc to các thông số, hai bàn tay giữ chặt cần điều khiển. Đèn pha công suất cao của tàu chỉ chiếu sáng được một quầng hẹp đầy những sinh vật phù du phát quang trôi lơ lửng như những đốm bụi sao giữa vũ trụ bao la.
“深度:六百米……外壳温度:4 摄氏度……压力:六十一个大气压。”亚历克斯大声读出数据,双手牢牢握住控制器。船上的高功率探照灯只能照亮前方一小圈,发光浮游生物在其中缓缓漂动,像浩瀚宇宙黑暗里悬浮的星尘。
“수심 600미터… 외부 온도 4도 섭씨… 압력 61기압.” 알렉스가 수치를 소리 내어 읽으며 두 손으로 조종 장치를 꽉 잡았다. 고출력 조명은 앞쪽의 좁은 범위만 비췄다. 그 안에는 발광 플랑크톤이 떠다니며 광대한 우주 어둠 속 별가루처럼 반짝였다.
P44
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 45 / 62
"Uh, Alex... I think something enormous is swimming over the cockpit," Jack whispered, pressing his face close to the thick reinforced glass. A massive shadow swallowed the headlight beam. Two eyes, each as large as a silver dinner plate and glowing with a cold phosphorescent light, stared directly into the cockpit.
“Này Alex… có cái gì đó khổng lồ đang bơi phía trên buồng lái tụi mình thì phải…” Jack thì thầm, mặt dán sát vào lớp kính cường lực dày cộp. Một bóng đen đồ sộ che khuất hoàn toàn ánh sáng đèn pha. Hai con mắt to như hai chiếc đĩa bạc, phát ra thứ ánh sáng lân tinh lạnh lẽo, nhìn trừng trừng vào trong buồng lái.
“呃,亚历克斯……我觉得有个特别大的东西正从驾驶舱上面游过去。”杰克把脸贴近厚厚的强化玻璃,小声说道。一道巨大黑影瞬间吞掉探照灯的光。两只眼睛,每一只都像银色餐盘那么大,散发冰冷磷光,直勾勾盯进驾驶舱。
“어, 알렉스… 뭔가 엄청 큰 게 조종석 위를 지나가는 것 같아.” 잭이 두꺼운 강화 유리에 얼굴을 바짝 대고 속삭였다. 거대한 그림자가 헤드라이트 빛을 완전히 삼켜 버렸다. 은색 접시만 한 눈 두 개가 차가운 인광을 내며 조종석 안을 정면으로 바라보고 있었다.
A giant tentacle more than ten meters long, covered in suckers rimmed with sharp serrated teeth, slammed into the hull. Metal screamed against metal. The titanium-alloy shell groaned under crushing pressure, and the entire vessel shook violently, like a ping-pong ball being squeezed out of shape.
Một chiếc xúc tu khổng lồ dài hơn mười mét, phủ kín những giác hút viền răng cưa sắc nhọn quất mạnh vào thân tàu! KÍTTT! Lớp vỏ hợp kim titan rên rỉ dưới áp lực nghẹt thở. Cả con tàu rung lắc dữ dội như một quả bóng bàn bị bóp méo.
一条超过十米长的巨型触手猛砸船身,触手上密布吸盘,边缘还长着锋利锯齿。金属发出刺耳摩擦声。钛合金外壳在可怕压力下呻吟,整艘船剧烈摇晃,仿佛一颗被挤到变形的乒乓球。
길이 10미터가 넘는 거대한 촉수가 선체를 후려쳤다. 촉수는 날카로운 톱니가 둘린 흡반으로 가득했다. 금속이 금속을 긁는 비명이 울렸다. 티타늄 합금 선체가 압도적인 압력에 신음했고, 배 전체가 찌그러질 듯 심하게 흔들렸다. 마치 손에 눌린 탁구공 같았다.
A giant deep-sea squid—Architeuthis—had wrapped all ten muscular arms and tentacles around the vessel, apparently mistaking it for a rival sperm whale. "Fire the laser! Roast it!" Jack yelled in panic.
Một con mực khổng lồ biển sâu (Architeuthis) đang dùng toàn bộ mười chiếc xúc tu cơ bắp quấn chặt lấy con tàu, lầm tưởng đây là một con cá voi nhà táng đối thủ. “Bắn laser đi! Nướng chín nó!” Jack hoảng loạn la to.
一只巨型深海乌贼——Architeuthis——正用十条强壮的腕足和触手死死缠住飞船,显然把它错认成了竞争对手抹香鲸。“开激光!把它烤熟!”杰克惊慌大叫。
거대한 심해 오징어 Architeuthis가 열 개의 강한 팔과 촉수로 배 전체를 꽉 감싸고 있었다. 아마 경쟁 상대인 향유고래로 착각한 듯했다. “레이저 쏴! 구워 버려!” 잭이 공포에 질려 외쳤다.
P45
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 46 / 62
"No! Down here, water scattering will weaken the beam. Shooting it will only make the squid panic and crush the hull!" Alex remembered Jane Goodall's lesson: target the senses instead of matching strength. "Deep-sea squid are extremely sensitive to low-frequency sound!"
“Không được! Dưới đáy biển sâu, tán xạ nước sẽ làm giảm uy lực chùm tia, bắn chỉ làm nó nổi điên siết nát vỏ tàu thôi!” Alex nhớ lại bài học của Jane Goodall: tác động vào giác quan thay vì dùng sức! “Mực biển sâu cực kỳ mẫn cảm với dải sóng âm tần số thấp!”
“不行!在这么深的海里,水的散射会削弱光束。开火只会让它受惊,然后把船壳勒碎!”亚历克斯想起珍·古道尔的教诲:不要比力气,要攻击感觉系统。“深海乌贼对低频声波极其敏感!”
“안 돼! 이 깊이에선 물의 산란 때문에 광선이 약해져. 쏘면 오징어만 겁먹고 선체를 더 세게 조일 거야!” 알렉스는 제인 구달의 교훈을 떠올렸다. 힘으로 맞서지 말고 감각을 공략하라. “심해 오징어는 저주파 소리에 아주 민감해!”
Alex immediately switched the vessel's external acoustic system to 150 hertz, broadcasting a simulation of the echolocation pulses of a pod of hungry sperm whales diving to hunt. The water around them trembled violently.
Alex lập tức chuyển hệ thống loa thủy âm (acoustic system) ngoài vỏ tàu sang dải tần 150 Hertz — phát ra mô phỏng tiếng sóng siêu âm định vị của một đàn cá voi nhà táng đói ăn đang lao xuống săn mồi! Khối nước xung quanh rung chuyển bần bật.
亚历克斯立刻把船体外部声学系统调到 150 赫兹,播放一群饥饿抹香鲸俯冲捕猎时的回声定位脉冲模拟信号。周围海水立刻剧烈震动起来。
알렉스는 즉시 외부 음향 시스템을 150헤르츠로 맞추고 사냥하러 잠수하는 굶주린 향유고래 무리의 반향정위 펄스를 모사해 송출했다. 주변 물이 강하게 떨리기 시작했다.
The giant squid jerked in alarm. A fear inherited through millions of years of evolution surged to the surface: its ancient enemy was right beside it. It immediately loosened its tentacles, blasted out a dense cloud of black ink, then thrashed its tail and fled into the darkness of the abyss.
Con mực khổng lồ giật nảy mình. Nỗi sợ hãi di truyền qua hàng triệu năm trỗi dậy: kẻ thù truyền kiếp đang ở ngay bên cạnh! Nó lập tức buông lỏng xúc tu, phụt ra một đám mây mực dày đặc đen ngòm rồi quẫy mạnh đuôi tháo chạy biến hút vào đáy vực thẳm.
巨型乌贼猛地一颤。经过数百万年遗传下来的恐惧瞬间苏醒:天敌就在身边!它立刻松开触手,喷出一大团浓黑墨汁,随后用力摆动尾部,飞快逃进深渊黑暗。
거대한 오징어가 놀라 몸을 움찔했다. 수백만 년 동안 유전된 공포가 한꺼번에 솟구쳤다. 천적이 바로 옆에 있었다. 오징어는 즉시 촉수를 풀고 짙은 먹물 구름을 뿜어낸 뒤 꼬리를 거세게 휘저으며 심연의 어둠 속으로 달아났다.
P46
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 47 / 62
"Whew... we almost became grilled squid snacks," Jack said, collapsing into his seat and breathing hard. But as the ink cloud began to clear, the seabed below suddenly split open around a brilliant blue arch of light.
“Phù… suýt nữa thì thành mực nướng nang!” Jack ngồi thụp xuống ghế thở dốc. Nhưng ngay sau đám mây mực vừa tan, đáy rãnh biển bỗng nứt toác ra một vòm sáng màu xanh lam rực rỡ.
“呼……差点变成烤鱿鱼点心。”杰克瘫进座椅,大口喘气。可就在墨云逐渐散开时,下方海沟突然裂开,一道耀眼的蓝色光拱从裂缝中亮起。
“후… 거의 구운 오징어 간식이 될 뻔했네.” 잭은 의자에 털썩 주저앉아 숨을 몰아쉬었다. 그런데 먹물 구름이 걷히자 아래 해저가 갑자기 갈라지며 눈부신 푸른 빛의 아치가 나타났다.
A Gateway at the bottom of the ocean was spinning rapidly, drawing the entire NEXUS signal into its center. "The pull is too strong! I can't stop us!" Alex shouted. The Cyber Boat slid straight toward the glowing vortex. Blinding white light swallowed everything. WHOOOM!
Cổng dịch chuyển Gateway dưới đáy biển đang xoay tít, hút trọn tín hiệu NEXUS vào tâm. “Lực hút quá lớn! Không hãm tàu được nữa!” Alex hét lên. Chiếc Cyber Boat trượt thẳng vào tâm xoáy sáng. Ánh sáng trắng xóa nuốt chửng mọi vật. VÙNG!
海底的 Gateway 正疯狂旋转,把整个 NEXUS 信号吸向中心。“吸力太强了!我停不住!”亚历克斯大喊。Cyber Boat 直直滑向发光漩涡。刺眼白光吞没了一切。轰——!
해저의 Gateway가 빠르게 회전하며 NEXUS 신호 전체를 중심으로 빨아들이고 있었다. “흡인력이 너무 강해! 멈출 수가 없어!” 알렉스가 외쳤다. Cyber Boat는 그대로 빛나는 소용돌이 중심으로 미끄러져 들어갔다. 눈부신 흰빛이 모든 것을 삼켰다. 우우웅!
The vessel burst out of the water and settled smoothly onto a bay as flat as glass beneath brilliant morning sunlight. The sea breeze carried the sweet scent of hibiscus and the warm, sweet-salty tang of the tropics. Not far away, a beautiful beach lined with lush green palms stretched along the shore.
Con tàu phóng vọt lên khỏi mặt nước, đáp êm ru xuống một vùng vịnh biển phẳng lặng như gương dưới ánh nắng ban mai rực rỡ. Gió biển mang theo mùi hương hoa dâm bụt ngào ngạt và vị mặn ngọt ngào của vùng nhiệt đới. Cách đó không xa, một bãi biển tuyệt đẹp với những rặng dừa xanh mướt hiện ra.
飞船猛地冲出海面,又轻柔落在一片镜面般平静的海湾上,灿烂晨光洒满四周。海风带着木槿花的甜香和热带地区温暖的咸甜气息。不远处,一道美丽沙滩沿着翠绿棕榈林延伸。
배가 수면 위로 튀어 올라 눈부신 아침 햇살 아래 거울처럼 잔잔한 만에 부드럽게 내려앉았다. 바닷바람에는 히비스커스의 달콤한 향과 열대의 따뜻한 짭짤하고 달큰한 냄새가 섞여 있었다. 멀지 않은 곳에는 푸른 야자수가 늘어선 아름다운 해변이 펼쳐져 있었다.
P47
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 48 / 62
On a wooden raft near the beach, five children around thirteen or fourteen years old—three boys and two girls in early-1940s-style swimwear—cheered, waved, and stared at the strange vessel. "Aloha! Is that the Navy's new submarine?"
Trên một chiếc bè gỗ gần bờ, năm đứa trẻ chừng mười ba, mười bốn tuổi — ba trai hai gái trong trang phục bơi cổ điển đầu thập niên 1940 — đang reo hò, vẫy tay cười đùa và trố mắt nhìn con tàu kỳ lạ. “Aloha! Tàu ngầm mới của Hải quân hả mấy cậu?”
靠近海滩的一只木筏上,五个大约十三、十四岁的孩子——三男两女,都穿着 1940 年代初期风格的泳装——正欢呼、挥手,瞪大眼睛看着这艘奇怪飞船。“Aloha!这是海军的新潜艇吗?”
해변 가까운 나무 뗏목 위에서 열세네 살쯤 되어 보이는 아이 다섯 명이 환호하며 손을 흔들고 있었다. 남자아이 셋, 여자아이 둘이었고 모두 1940년대 초반 스타일의 수영복을 입고 있었다. 아이들은 이상한 배를 눈을 크게 뜨고 바라봤다. “알로하! 해군 신형 잠수함이야?”
A blond boy on the raft shouted the question with a bright grin. Before Alex could wave back, the boat's console began firing off rapid synchronization tones: CHRONO-SYNC COMPLETE. LOCATION: PEARL HARBOR, HAWAII. DATE: DECEMBER 7, 1941. TIME: 07:48 AM.
Một cậu bé tóc vàng trên bè hét to, nụ cười rạng rỡ. Alex chưa kịp vẫy tay chào lại thì bảng điều khiển của tàu bỗng phát ra âm thanh đồng bộ dữ liệu dồn dập: CHRONO-SYNC COMPLETE. LOCATION: PEARL HARBOR, HAWAII. DATE: DECEMBER 7, 1941. TIME: 07:48 AM.
木筏上一名金发男孩笑得灿烂,大声问道。亚历克斯还没来得及挥手回应,船上控制台便接连发出急促的同步提示音:CHRONO-SYNC COMPLETE. LOCATION: PEARL HARBOR, HAWAII. DATE: DECEMBER 7, 1941. TIME: 07:48 AM.
뗏목 위의 금발 소년이 환하게 웃으며 큰소리로 물었다. 알렉스가 손을 흔들기도 전에 조종 화면에서 빠른 동기화 신호음이 연달아 울렸다. CHRONO-SYNC COMPLETE. LOCATION: PEARL HARBOR, HAWAII. DATE: DECEMBER 7, 1941. TIME: 07:48 AM.
At the same instant, the sky-radar display turned bright red as hundreds of contacts rushed in from the north. The smile vanished from Alex's face. He looked at Jack, trembling. "Pearl Harbor..." "Alex! Turn on the radio transmitter! Warn the whole base!" Jack lunged toward the console, shouting until his voice cracked.
Cùng lúc đó, màn hình radar quét bầu trời bỗng chuyển sang màu đỏ rực, hiện lên hàng trăm chấm sáng đang lao xuống từ phía bắc. Nụ cười trên môi Alex tắt ngấm. Cậu run rẩy nhìn Jack: “Trân Châu Cảng…” “Alex! Bật máy phát vô tuyến lên! Báo động cho toàn căn cứ mau!” Jack chồm lên bảng điều khiển hét lạc cả giọng.
同一瞬间,空域雷达屏幕猛地变成鲜红色,数百个目标点正从北方高速逼近。亚历克斯脸上的笑容瞬间消失。他浑身发抖地看向杰克。“珍珠港……” “亚历克斯!打开无线电发射器!快警告整个基地!”杰克扑向控制台,喊到声音都破了。
동시에 공중 레이더 화면이 새빨갛게 변하며 수백 개의 접촉 신호가 북쪽에서 빠르게 접근했다. 알렉스 얼굴에서 웃음이 사라졌다. 그는 몸을 떨며 잭을 바라봤다. “진주만…” “알렉스! 무선 송신기 켜! 기지 전체에 경고해!” 잭이 조종판으로 몸을 던지며 목이 갈라지도록 외쳤다.
P48
CHAPTER 8 BÓNG MA ĐẠI DƯƠNG
PAGE 49 / 62
With shaking hands, Alex activated the vessel's emergency shortwave transmitter. "Warning to the entire Pearl Harbor fleet! Enemy aircraft approaching from the north! I repeat, this is not a drill—" Static burst from the base radio, followed by the irritated, sleepy voice of a duty officer. "Which plantation kids are fooling around on a transmitter? Get off this frequency before I have the MPs lock you up! Those are our B-17 Flying Fortresses coming in from the mainland..."
Alex run rẩy kích hoạt hệ thống phát thanh dải sóng ngắn khẩn cấp của tàu: “Cảnh báo toàn bộ hạm đội Trân Châu Cảng! Máy bay địch đang tiếp cận từ hướng Bắc! Tôi nhắc lại, đây không phải cuộc diễn tập—” Từ loa vô tuyến của căn cứ phát ra tiếng rè rè kèm theo giọng nói ngái ngủ đầy bực bội của một sĩ quan trực ban: “Này mấy nhóc con đồn điền nào nghịch máy phát đấy? Cắt sóng ngay không tao cho quân cảnh tống giam bây giờ! Đó là phi đội pháo đài bay B-17 của chúng ta từ lục địa bay sang…”
亚历克斯双手发抖着启动紧急短波发射器。“珍珠港全舰队注意!敌机正从北方接近!重复,这不是演习——”基地电台先传来一阵噪声,接着是一名值班军官困倦又恼火的声音。“哪个种植园的小鬼在乱用发射机?马上离开这个频率,不然我让宪兵把你们抓起来!那是我们的 B-17‘飞行堡垒’,从大陆飞过来的……”
알렉스는 떨리는 손으로 비상 단파 송신기를 켰다. “진주만 함대 전체에 경고! 적기가 북쪽에서 접근 중입니다! 반복합니다, 훈련이 아닙니다—” 기지 무전기에서 잡음이 터진 뒤 졸리고 짜증 섞인 당직 장교의 목소리가 들렸다. “어느 농장 꼬마들이 송신기로 장난치는 거냐? 당장 이 주파수에서 꺼져. 헌병 불러서 잡아넣기 전에! 저건 본토에서 오는 우리 B-17 플라잉 포트리스야…”
"They're not B-17s! They're Japanese bombers—" The receiver went dead with a hollow click. Alex sank into the pilot's seat and buried his head in both hands. A hard, bitter lesson struck him all at once: having the right information did not guarantee that people would interpret it correctly.
“Không phải B-17! Là máy bay ném bom của Nhật—” TÁCH! Tín hiệu bị ngắt không thương tiếc. Alex sụp xuống ghế lái, hai bàn tay ôm chặt lấy đầu. Một bài học cay đắng và tàn nhẫn giáng thẳng vào tâm thức cậu: Có thông tin không đồng nghĩa với việc hiểu đúng thông tin.
“不是 B-17!是日本轰炸机——”接收机发出一声空洞的咔嗒,信号彻底中断。亚历克斯瘫坐进驾驶座,双手抱住头。一个苦涩而残酷的事实猛然击中他:拥有正确的信息,并不代表别人就会正确理解它。
“B-17이 아니에요! 일본 폭격기예요—” 수신기에서 텅 빈 딸깍 소리가 나더니 연결이 끊겼다. 알렉스는 조종석에 주저앉아 두 손으로 머리를 감쌌다. 쓰고 아픈 교훈이 한꺼번에 밀려왔다. 올바른 정보를 갖고 있다고 해서 사람들이 그 정보를 올바르게 이해하는 것은 아니었다.
Data alone was not wisdom. People saw the world through the filter of their own assumptions, and the future could not be changed with a single phone call. Then the world around them erupted into hell.
Dữ liệu đứng một mình không phải là trí tuệ. Con người luôn có xu hướng nhìn thế giới qua lăng kính định kiến chủ quan của chính họ, và tương lai không thể thay đổi chỉ bằng một cuộc gọi điện thoại. Và rồi, địa ngục trần gian bùng nổ.
数据本身并不是智慧。人总会通过自己的假设和偏见去看世界,而未来也不可能只靠一通电话改变。下一秒,他们周围的人间地狱轰然爆发。
데이터만 있다고 지혜가 되는 것은 아니었다. 사람은 누구나 자신의 가정과 편견이라는 필터로 세상을 바라본다. 그리고 미래는 전화 한 통으로 바뀌지 않는다. 바로 그다음 순간, 주변 세상이 지옥으로 변했다.
P49
CHAPTER 9 BIẾT TRƯỚC NHƯNG KHÔNG THỂ CỨU TẤT CẢ
PAGE 50 / 62
The roar of hundreds of Mitsubishi Zero fighters and torpedo bombers diving through the air tore open the peaceful morning sky. Explosions thundered across the harbor as torpedoes ripped through the water and slammed into the sides of massive warships. The battleship USS Arizona erupted in a horrific blast, a towering fireball climbing hundreds of meters into the air as the ship was torn in two and more than a thousand sailors were carried beneath the water within minutes.
Tiếng gầm rú xé gió của hàng trăm chiếc máy bay chiến đấu Mitsubishi Zero và máy bay ném ngư lôi bổ nhào xé toạc bầu trời buổi sáng yên bình. OÀNH! OÀNH! OÀNH! Những quả ngư lôi xé nước đánh trúng mạn các chiến hạm khổng lồ. Thiết giáp hạm USS Arizona phát nổ kinh hoàng, một quả cầu lửa khổng lồ dựng đứng lên trời cao hàng trăm mét, xé toạc con tàu làm đôi và nhấn chìm hơn một ngàn thủy thủ xuống lòng biển sâu chỉ trong vài phút.
数百架三菱零式战斗机和鱼雷轰炸机俯冲而下,引擎咆哮撕裂宁静的清晨天空。港湾里爆炸声接连轰鸣,鱼雷劈开水面,狠狠撞上巨大军舰的船舷。战列舰 USS Arizona 发生可怕爆炸,一团高达数百米的巨大火球冲天而起,船体被撕成两半,几分钟内便有一千多名水兵随舰沉入水下。
수백 대의 미쓰비시 제로 전투기와 어뢰 폭격기가 공기를 가르며 급강하했고, 엔진 굉음이 평화로운 아침 하늘을 찢었다. 항구 곳곳에서 폭발이 터졌고 어뢰가 수면을 가르며 거대한 군함 옆구리에 꽂혔다. 전함 USS Arizona가 끔찍한 폭발과 함께 갈라졌다. 수백 미터 높이의 거대한 불기둥이 솟았고, 배는 두 동강 나며 몇 분 안에 천 명이 넘는 수병을 물속으로 끌고 들어갔다.
Black smoke rolled across the sky and blotted out the sun. The harbor became a burning sea as spilled oil blazed across the water. Warning sirens wailed helplessly beneath the screams of thousands of terrified people. The Cyber Boat pitched violently in the shock waves from one explosion after another.
Khói đen cuồn cuộn che kín ánh mặt trời. Cảng biển biến thành một biển lửa rực cháy, dầu loang bốc cháy ngùn ngụt trên mặt nước. Tiếng còi báo động rú lên từng hồi vô vọng hòa cùng tiếng thét hoảng loạn của hàng ngàn con người. Chiếc Cyber Boat chao đảo dữ dội giữa những đợt sóng xung kích từ các vụ nổ liên hoàn.
黑烟翻滚着遮住太阳。港湾变成燃烧的火海,泄漏的油料在水面熊熊燃起。警报声绝望地长鸣,与成千上万人惊恐的尖叫混在一起。接连爆炸产生的冲击波一次又一次掀动 Cyber Boat,让整艘船剧烈摇晃。
검은 연기가 하늘을 뒤덮어 태양을 가렸다. 항구는 불바다가 되었고 유출된 기름이 수면에서 거세게 타올랐다. 경보 사이렌이 절망적으로 울렸고 수천 명의 비명이 뒤섞였다. 연이어 터지는 폭발의 충격파가 Cyber Boat를 거칠게 흔들었다.
"Alex! Does this boat have weapons? Shoot those planes down!" Jack shouted through the choking smoke. "We can't!" Alex yelled back, tears running down his face. "We can't change the outcome of this battle! We can't save all of history!" "So we just stand here and watch people die?!" Jack slammed a fist onto the console. "SWITCH TO RESCUE MODE! SAVE THE PEOPLE RIGHT IN FRONT OF US!"
“Alex! Tàu mình có vũ khí không? Bắn hạ máy bay đi!” Jack gào lên trong làn khói đặc quẹt. “Không thể!” Alex hét lại, nước mắt chảy dài trên má. “Chúng ta không thể thay đổi kết cục của cuộc chiến này! Chúng ta không thể cứu cả lịch sử!” “Thế tụi mình đứng trơ mắt nhìn người ta chết à?!” Jack đập mạnh nắm đấm xuống bàn điều khiển. “CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ CỨU HỘ! CỨU NHỮNG NGƯỜI NGAY TRƯỚC MẶT!”
“亚历克斯!这艘船有武器吗?把那些飞机打下来!”杰克在呛人的烟雾中大喊。“不行!”亚历克斯吼了回去,眼泪顺着脸颊往下流。“我们不能改变这场战斗的结局!我们不可能拯救整个历史!” “那我们就站在这里眼睁睁看着人死吗?!”杰克一拳砸在控制台上。“切换救援模式!先救眼前的人!”
“알렉스! 이 배에 무기 없어? 저 비행기들 격추해!” 잭이 숨 막히는 연기 속에서 외쳤다. “안 돼!” 알렉스가 눈물을 흘리며 소리쳤다. “이 전투의 결말을 바꿀 수 없어! 역사를 전부 구할 수도 없다고!” “그럼 그냥 서서 사람들이 죽는 걸 보기만 하자는 거야?!” 잭이 조종판을 주먹으로 세게 내리쳤다. “구조 모드로 전환해! 바로 앞에 있는 사람부터 구해!”
P50
CHAPTER 9 BIẾT TRƯỚC NHƯNG KHÔNG THỂ CỨU TẤT CẢ
PAGE 51 / 62
Alex shoved the controls forward. It was the answer to the question Jack had asked in Trần Quốc Tuấn's command camp: when a historical disaster cannot be stopped, the one thing you can still do is save the individual lives within your reach. The wooden raft carrying the five children from earlier had been smashed apart by the blast waves.
Alex gạt mạnh cần điều khiển. Đó chính là câu trả lời cho câu hỏi mà Jack đã đặt ra tại doanh trại của Trần Quốc Tuấn: Khi một thảm họa lịch sử không thể ngăn cản, điều duy nhất ta có thể làm là cứu lấy những sinh mạng cụ thể ngay trong tầm tay mình. Chiếc bè gỗ của năm đứa trẻ ban nãy đã bị sóng xung kích đánh vỡ tan tành.
亚历克斯猛地把控制杆向前推。那正是杰克在陈国峻军营里提出的问题的答案:当一场历史灾难无法阻止时,唯一还能做的,就是尽全力救下眼前够得到的具体生命。刚才那五个孩子乘坐的木筏,已经被爆炸冲击波彻底击碎。
알렉스는 조종 장치를 세게 앞으로 밀었다. 그것은 쩐꾸옥뚜언의 지휘 진영에서 잭이 던졌던 질문에 대한 답이었다. 역사적 재난 자체를 막을 수 없다면, 할 수 있는 일은 지금 손이 닿는 구체적인 생명을 구하는 것뿐이다. 조금 전 다섯 아이가 타고 있던 나무 뗏목은 폭발의 충격파에 산산조각 나 있었다.
Through the black smoke and burning oil, five weak life-signals struggled in the water. "Jack! Clip your safety line to the rail!" The Cyber Boat cut through the waves and drove straight into the burning slick. Jack leaned half his body over the side, caught the wrists of a boy and a girl choking on oily smoke, and hauled both of them safely onto the deck.
Giữa làn khói đen kịt và dầu cháy ngùn ngụt trên mặt biển, năm chấm tín hiệu sinh mệnh yếu ớt đang chới với tuyệt vọng. “Jack! Móc dây bảo hiểm vào mạn tàu!” Chiếc Cyber Boat rẽ sóng lao thẳng vào tâm vùng dầu cháy. Jack nhoài nửa người ra ngoài mạn thuyền, tay vươn ra chụp lấy cổ tay của một cậu bé và một cô bé đang sặc khói dầu đen nhẻm, kéo giật cả hai lên sàn tàu an toàn.
浓黑烟雾与燃烧油膜之间,五个微弱的生命信号在水里绝望挣扎。“杰克!把安全绳扣在船舷上!”Cyber Boat 劈开浪头,直冲燃烧的油面。杰克半个身子探出船外,一把抓住一男一女两个孩子的手腕,把被黑色油烟呛得不停咳嗽的他们拖上甲板。
검은 연기와 불타는 기름 사이에서 희미한 생명 신호 다섯 개가 물속에서 버티고 있었다. “잭! 안전줄을 난간에 걸어!” Cyber Boat가 파도를 가르며 불붙은 기름막 안으로 곧장 돌진했다. 잭은 상체 절반을 배 밖으로 내밀어 검은 기름 연기에 질식하던 남자아이와 여자아이의 손목을 붙잡고 둘 다 갑판 위로 끌어올렸다.
"Three more! Behind the burning reef!" Jack shouted. Alex threw the boat into a hard turn, skimming past the blazing wreckage of a sunken craft. Jack reached out again and pulled two more children into the sealed cabin. Only one remained—the blond boy who had grinned and shouted "Aloha" at sunrise, now clinging desperately to a broken plank drifting in the water.
“Còn ba đứa nữa! Phía sau rặng san hô đang cháy!” Jack hét to. Alex bẻ lái gắt gao, con tàu lướt sát qua mảnh xác tàu đắm rực lửa. Jack tiếp tục với tay cứu được thêm hai đứa trẻ nữa kéo vào khoang kín. Chỉ còn một cậu bé cuối cùng — chính là cậu bé tóc vàng đã cười tươi hét “Aloha” lúc bình minh — đang bám tuyệt vọng vào một mảnh ván gỗ trôi nổi.
“还有三个!在燃烧的礁石后面!”杰克大喊。亚历克斯猛打方向,飞船擦着一艘沉没船只燃烧的残骸掠过。杰克再次伸手,又把两个孩子拉进封闭船舱。只剩最后一个——那个黎明时笑着喊“Aloha”的金发男孩,此刻正绝望地抱着一块漂在水上的断木板。
“세 명 더 있어! 불타는 암초 뒤쪽!” 잭이 외쳤다. 알렉스가 급하게 선회해 불붙은 침몰선 잔해를 스치듯 지나갔다. 잭은 다시 손을 뻗어 아이 둘을 더 끌어 밀폐된 선실 안으로 넣었다. 이제 한 명만 남았다. 새벽에 환하게 웃으며 “알로하!”를 외쳤던 금발 소년이 물 위에 떠 있는 부서진 판자 하나를 필사적으로 붙잡고 있었다.
P51
CHAPTER 9 BIẾT TRƯỚC NHƯNG KHÔNG THỂ CỨU TẤT CẢ
PAGE 52 / 62
At that instant, the collision alarm screamed through the cockpit: CRITICAL COLLISION WARNING! AIRCRAFT DIVING DIRECTLY ON INTERCEPT VECTOR. TIME TO IMPACT: 19 SECONDS. A bomber struck by antiaircraft fire was burning fiercely, its tail controls gone, and plunging almost straight down toward the harbor like a flaming meteor.
Đúng lúc đó, còi báo động va chạm trong buồng lái rú lên một âm thanh chói tai đến nghẹt thở: CRITICAL COLLISION WARNING! AIRCRAFT DIVING DIRECTLY ON INTERCEPT VECTOR. TIME TO IMPACT: 19 SECONDS. Một chiếc máy bay ném bom bị trúng đạn pháo cao xạ bốc cháy rừng rực, mất hoàn toàn cánh lái đuôi và đang lao thẳng đứng xuống mặt biển như một khối thiên thạch rực lửa.
就在那一刻,驾驶舱里的碰撞警报发出几乎令人窒息的尖叫:CRITICAL COLLISION WARNING! AIRCRAFT DIVING DIRECTLY ON INTERCEPT VECTOR. TIME TO IMPACT: 19 SECONDS. 一架被高射炮击中的轰炸机正熊熊燃烧,尾部控制系统已经失效,几乎垂直朝港湾坠落,像一颗燃烧的陨石。
바로 그 순간 조종석의 충돌 경보가 숨 막힐 만큼 날카롭게 울렸다. CRITICAL COLLISION WARNING! AIRCRAFT DIVING DIRECTLY ON INTERCEPT VECTOR. TIME TO IMPACT: 19 SECONDS. 대공포에 맞은 폭격기 한 대가 맹렬히 불타고 있었고 꼬리 조종 장치는 완전히 망가졌다. 기체는 불타는 운석처럼 항구를 향해 거의 수직으로 추락하고 있었다.
Its fatal impact point lay directly over the blond boy and the Cyber Boat. "Alex! Back us up! Now! That thing is going to land on top of us!" Jack screamed, his eyes red from the stinging oil smoke. The shriek of rushing air merged with the tortured roar of twisting metal, like some prehistoric beast falling out of the sky.
Điểm rơi định mệnh nằm ngay trên vị trí của cậu bé tóc vàng và chiếc Cyber Boat! “Alex! Lùi tàu lại mau! Nó rơi trúng đầu tụi mình bây giờ!” Jack gào lên lạc giọng, hai mắt đỏ ngầu giữa màn khói dầu cay xè. Tiếng gió rít xé màng nhĩ hòa cùng tiếng kim loại biến dạng gầm thét như tiếng gầm của một con mãnh thú thời tiền sử.
致命的坠落点正好覆盖金发男孩和 Cyber Boat 所在的位置。“亚历克斯!倒车!快!那东西要砸到我们头上了!”杰克声音都喊破了,眼睛被刺鼻油烟熏得通红。高速下坠产生的尖啸与扭曲金属的惨烈轰鸣交织在一起,像一头史前巨兽从天空坠落。
치명적인 추락 지점은 금발 소년과 Cyber Boat가 있는 곳과 정확히 겹쳤다. “알렉스! 뒤로 빼! 지금! 저게 우리 머리 위로 떨어진다고!” 잭은 목소리가 갈라질 만큼 소리쳤고, 기름 연기에 눈이 새빨갛게 충혈돼 있었다. 공기를 찢는 굉음과 비틀리는 금속의 고통스러운 소리가 뒤섞여, 마치 선사시대 괴물이 하늘에서 떨어지는 것 같았다.
Less than fifteen meters from the bow, the blond boy—about thirteen, the same boy whose bright "Aloha" had greeted them at dawn—clung desperately to a shattered piece of wood. His water-filled blue eyes were wide with pure terror, reflecting the dark shape of the burning mass of steel dropping toward him.
Cách mũi tàu chưa đầy mười lăm mét, cậu bé tóc vàng trạc mười ba tuổi — người vừa hét câu chào “Aloha” trong trẻo lúc bình minh — đang bám tuyệt vọng vào một mảnh ván gỗ vỡ nát. Đôi mắt xanh ngập nước của cậu mở to trong nỗi kinh hoàng thuần khiết, phản chiếu bóng đen của khối sắt rực lửa đang chụp xuống.
距船头不到十五米,那名大约十三岁的金发男孩——正是黎明时清亮地喊过“Aloha”的那个孩子——正死死抱着一块破碎木板。满是海水的蓝眼睛因为纯粹的恐惧而瞪得极大,眼中倒映着头顶那团燃烧钢铁的黑影。
뱃머리에서 15미터도 채 떨어지지 않은 곳에서 열세 살쯤 된 금발 소년이 부서진 나무 조각을 필사적으로 붙잡고 있었다. 새벽에 맑은 목소리로 “알로하!”를 외쳤던 바로 그 아이였다. 물에 젖은 푸른 눈은 순수한 공포로 크게 뜨여 있었고, 자신을 덮쳐 오는 불타는 쇳덩이의 검은 그림자가 그 안에 비쳤다.
P52
CHAPTER 9 BIẾT TRƯỚC NHƯNG KHÔNG THỂ CỨU TẤT CẢ
PAGE 53 / 62
The Cyber Boat's console flashed blood-red while the alarm shrieked without pause: CRITICAL COLLISION IMMINENT. IMPACT VECTOR: 90 DEGREES. TIME TO COLLISION: 12 SECONDS. Every survival instinct in Alex told him to slam the throttle into reverse and save himself, but the boy's eyes in the water would not let go of him.
Bảng điều khiển của Cyber Boat chớp nháy màu đỏ máu, chuông báo động ré lên liên tục: CRITICAL COLLISION IMMINENT. IMPACT VECTOR: 90 DEGREES. TIME TO COLLISION: 12 SECONDS. Trực giác sinh tồn hối thúc Alex đạp lùi cần ga để cứu lấy chính mình, nhưng ánh mắt của cậu bé dưới nước ghim chặt lấy tâm trí cậu.
Cyber Boat 控制台闪成血红色,警报持续尖啸:CRITICAL COLLISION IMMINENT. IMPACT VECTOR: 90 DEGREES. TIME TO COLLISION: 12 SECONDS. 亚历克斯所有求生本能都在催他猛推倒车、先保住自己,可水中那个男孩的眼神牢牢钉住了他的意识。
Cyber Boat 조종 화면이 핏빛 붉은색으로 번쩍였고 경보는 끊임없이 울렸다. CRITICAL COLLISION IMMINENT. IMPACT VECTOR: 90 DEGREES. TIME TO COLLISION: 12 SECONDS. 알렉스의 생존 본능은 스로틀을 후진으로 밀어 자신부터 살리라고 외쳤지만, 물속 소년의 눈빛이 그의 마음을 붙잡고 놓지 않았다.
Trần Quốc Tuấn's lesson from the command camp struck Alex with sudden clarity: when you cannot stop the disaster itself, give everything you have to save the life directly in front of you. "We're not backing away!" Alex shouted, driving the hydro-propulsion control fully forward. "Lock your safety line, Jack!" 8 SECONDS. Twin water turbines beneath the hull blasted at maximum pressure, lifting the bow and hurling the vessel across the burning water.
Bài học ở trung quân đại doanh của Trần Quốc Tuấn bỗng dội về sắc lạnh: Khi không thể ngăn một thảm họa, điều duy nhất ta có thể làm là dốc toàn lực để cứu lấy sinh mạng trước mắt. “Không lùi!” Alex hét lên, hai tay đẩy lút cần điều khiển hydro-propulsion về phía trước. “Giữ chắc dây bảo hiểm, Jack!” 8 SECONDS. Hai luồng turbine nước dưới lườn tàu phụt ra áp lực cực đại, nhấc bổng mũi con tàu lướt ngang qua vùng nước đang bốc cháy.
陈国峻在军营里说过的话突然无比清晰地回响在亚历克斯脑中:当你无法阻止灾难本身时,就把一切力量用来救眼前那条生命。“我们不后退!”亚历克斯大喊,把 hydro-propulsion 控制杆推到底。“杰克,锁好安全绳!”8 SECONDS. 船底双水轮机以最大压力喷射,把船头猛地抬起,将飞船射过燃烧的水面。
쩐꾸옥뚜언의 지휘 진영에서 들은 교훈이 알렉스 머릿속에 차갑고 선명하게 울렸다. 재난 자체를 막을 수 없다면 눈앞의 생명을 구하는 데 모든 힘을 쏟아라. “우린 물러나지 않아!” 알렉스가 외치며 hydro-propulsion 조종 장치를 끝까지 앞으로 밀었다. “잭, 안전줄 잠가!” 8 SECONDS. 선체 아래의 두 워터터빈이 최대 압력으로 물을 뿜어 뱃머리를 들어 올렸고 배를 불타는 수면 위로 내던지듯 밀어냈다.
The Cyber Boat surged to the shattered plank. Jack leaned his entire upper body over the side, one hand clamped white-knuckled around the rail while the other grabbed for the blond boy's wrist. 4 SECONDS. Mud, oil, and seawater made their hands slip apart by inches. "Grab me! Don't let go!" Jack screamed until his throat tore raw.
Con tàu chồm tới đúng vị trí mảnh ván gỗ vỡ vụn. Jack nhoài toàn bộ nửa thân trên ra khỏi mạn thuyền, các khớp ngón tay trắng bệch vì siết chặt lấy thành tàu, vươn cánh tay còn lại tóm lấy cổ tay cậu bé tóc vàng. 4 SECONDS. Bùn, dầu và nước biển trơn tuột khiến bàn tay Jack trượt đi trong gang tấc. “Nắm lấy tao! Đừng buông!” Jack hét đến rách họng.
Cyber Boat 猛冲到那块断木旁。杰克整个上半身探出船舷,一只手死死抓住栏杆,指节都发白,另一只手伸向金发男孩的手腕。4 SECONDS. 泥、水、油让两人的手只差一点就滑开。“抓住我!别松手!”杰克喊到嗓子发裂。
Cyber Boat가 부서진 판자 곁으로 돌진했다. 잭은 상체 전체를 배 밖으로 내밀고 한 손으로 난간을 새하얗게 질릴 만큼 세게 움켜쥔 채 다른 손으로 금발 소년의 손목을 잡으려 했다. 4 SECONDS. 진흙과 기름, 바닷물 때문에 두 사람의 손이 간발의 차로 미끄러졌다. “잡아! 놓지 마!” 잭은 목이 찢어질 듯 외쳤다.
P53
CHAPTER 9 BIẾT TRƯỚC NHƯNG KHÔNG THỂ CỨU TẤT CẢ
PAGE 54 / 62
With the instinctive reflexes of a kid used to rough-and-tumble street life, Jack lunged one last time and locked both wrists into a rescue grip. He threw his full body weight backward into the cockpit and ripped the boy up onto the deck. 1 SECOND. The canopy slammed shut automatically and sealed the cabin. All five Pearl Harbor children were inside, huddled together and shaking.
Bằng một phản xạ xuất thần của một đứa trẻ quen lăn lộn ngoài đường phố, Jack chồm thêm một nhịp, khóa chặt hai cổ tay vào nhau theo kiểu gọng kìm cứu hộ. Cậu dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể ngả ngược vào lòng khoang lái, giật phăng cậu bé lên sàn tàu. 1 SECOND. Cửa canopy tự động đóng sập xuống, khóa kín áp suất. Cả năm đứa trẻ Trân Châu Cảng đã an toàn trong lòng tàu, co cụm ôm chặt lấy nhau run rẩy.
凭着一个在街头磕碰惯了的孩子才会有的本能反应,杰克最后又猛扑一次,用双手腕锁成救援夹握。他把全身重量向驾驶舱后方一甩,硬生生把男孩拽上甲板。1 SECOND. canopy 自动猛然闭合,船舱完全密封。珍珠港的五个孩子终于全部进了船内,挤在一起瑟瑟发抖。
거리에서 몸싸움에 익숙한 아이 특유의 본능적인 반사로 잭은 마지막 한 번 더 몸을 내밀었다. 양손목을 단단히 걸어 구조용 그립을 만들고 온몸의 무게를 뒤로 던져 금발 소년을 갑판 위로 끌어올렸다. 1 SECOND. canopy가 자동으로 쾅 닫히며 선실이 밀폐됐다. 진주만의 아이 다섯 명이 모두 배 안에 들어와 서로 붙어 떨고 있었다.
But there was no longer enough distance for the future vessel to escape the aircraft's falling path. Tons of flaming steel crashed down onto the reinforced canopy. Heat measured in thousands of degrees blistered the nano-titanium coating in an instant. "COVER YOUR HEADS!" was all Alex had time to shout. The impact slammed through the vessel. Yet the space around them did not explode into shards of glass and flesh-cutting debris as ordinary physics demanded.
Nhưng khoảng cách không còn đủ để con tàu tương lai thoát khỏi bán kính rơi tự do. Khối thép rực lửa hàng tấn của chiếc máy bay rơi đè sụp xuống ngay trên nóc vòm kính cường lực. Nhiệt độ thiêu đốt hàng ngàn độ C làm rộp lớp sơn nano titan trong tích tắc. “ÔM CHẶT ĐẦU!” Alex chỉ kịp thét lên câu cuối cùng. RẦM! Không gian không vỡ vụn thành những mảnh kính găm vào da thịt như quy luật vật lý thông thường.
但距离已经不足以让未来飞船逃出飞机的坠落轨迹。数吨燃烧钢铁重重砸上强化 canopy。数千摄氏度的高温瞬间让纳米钛涂层鼓泡。“抱住头!”这是亚历克斯来得及喊出的最后一句话。轰!冲击贯穿整艘船。然而按照普通物理规律本该炸裂成无数玻璃碎片、刺进皮肉的空间,却没有那样破碎。
하지만 이제 미래의 배가 추락 경로에서 벗어나기에는 거리가 부족했다. 수 톤의 불타는 강철이 강화 canopy 위로 그대로 떨어졌다. 수천 도의 열이 나노 티타늄 코팅을 순식간에 부풀게 했다. “머리 감싸!” 알렉스가 외칠 수 있었던 마지막 말이었다. 쾅! 충격이 배 전체를 관통했다. 하지만 보통의 물리 법칙이라면 유리가 산산조각 나 살을 찔렀어야 할 공간이 그렇게 터져 나가지는 않았다.
The extreme impact triggered the vessel's last-resort protection system. A blinding burst of white light erupted from the energy core, washing away every color, every trace of heat, and every roar of the battle. Gravity vanished. The entire world drifted into absolute silence, clean and weightless as the first instant of the universe. ...
Cú va chạm cực hạn kích hoạt cơ chế bảo vệ bất khả kháng của con tàu. Một chùm ánh sáng trắng xóa rực rỡ bùng nổ từ lõi năng lượng, xóa nhòa toàn bộ màu sắc, nhiệt độ và âm thanh gầm rú của bom đạn. Trọng lực biến mất hoàn toàn. Cả không gian trôi bồng bềnh trong một sự tĩnh lặng tuyệt đối, tinh khôi như thuở khai sinh vũ trụ. …
极限冲击触发了飞船最后的强制保护系统。能量核心猛地爆出一团耀眼白光,洗掉了所有颜色、所有热量,也吞没了战场的一切轰鸣。重力彻底消失。整个世界漂浮在绝对寂静中,纯净而失重,仿佛宇宙诞生的第一瞬间……
극한의 충격이 배의 최후 보호 시스템을 작동시켰다. 에너지 코어에서 눈부신 흰빛이 폭발해 모든 색과 열, 전장의 굉음을 씻어 냈다. 중력이 완전히 사라졌다. 세상 전체가 절대적인 정적 속에 떠올랐다. 우주가 태어난 첫 순간처럼 깨끗하고 무중력한 상태였다…
P54
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 55 / 62
Tick. Tick. Tick. A dry mechanical rhythm pulled Alex back toward consciousness. The stench of burning oil was gone. In its place came something deeply familiar: the smell of garlic butter from toasted bread and the rich aroma of his mother's coffee drifting up from the kitchen below.
Tích. Tích. Tích. Một âm thanh máy móc khô khốc gõ nhịp đều đặn kéo ý thức của Alex quay trở lại. Mùi khói dầu khét lẹt biến mất. Thay vào đó là một mùi hương vô cùng quen thuộc: mùi bơ tỏi từ bánh mì nướng và vị cà phê nồng nàn của mẹ bốc lên từ tầng bếp dưới nhà.
滴。滴。滴。干涩的机械节拍把亚历克斯的意识一点点拉回来。燃烧油料的恶臭消失了,取而代之的是无比熟悉的气味:烤面包上的蒜香黄油,还有从楼下厨房飘上来的、母亲咖啡浓郁的香气。
틱. 틱. 틱. 메마른 기계음이 일정한 박자로 알렉스의 의식을 끌어당겼다. 불타는 기름의 악취는 사라졌다. 대신 너무나 익숙한 냄새가 올라왔다. 구운 빵의 마늘 버터 향과 아래층 주방에서 올라오는 엄마의 진한 커피 향이었다.
Alex blinked. His blurred vision slowly came into focus. Jack was standing right beside him, breathing hard, while the five children from 1941 sat on the floor in seawater-soaked clothes, looking at Alex with profound gratitude.
Alex chớp mắt. Tầm nhìn mờ ảo dần định hình: cậu thấy Jack đang đứng ngay sát bên mạn sườn mình, thở dốc, và năm đứa trẻ thời 1941 đang ngồi bệt dưới sàn, quần áo ướt sũng nước biển, mắt nhìn cậu bằng sự hàm ơn sâu sắc.
亚历克斯眨了眨眼。模糊的视野渐渐清晰。杰克就站在他旁边大口喘气,而 1941 年的五个孩子穿着被海水浸透的衣服坐在地板上,用充满感激的目光望着他。
알렉스가 눈을 깜빡였다. 흐릿하던 시야가 서서히 또렷해졌다. 잭은 바로 옆에 서서 숨을 몰아쉬고 있었고, 1941년의 아이 다섯 명은 바닷물에 흠뻑 젖은 옷을 입은 채 바닥에 앉아 깊은 감사의 눈빛으로 알렉스를 바라보고 있었다.
He reached toward Jack's shoulder. "We... made it out, right, Jack?" But his fingers passed through empty air. In the space of a single breath, the five children's figures faded, broke apart into tiny grains of golden light, and vanished into nothingness.
Cậu vươn tay định chạm vào vai Jack: “Tụi mình… thoát rồi hả Jack?” Nhưng ngón tay cậu chỉ xuyên qua một luồng không khí rỗng không. Chỉ trong một nhịp thở, hình bóng của năm đứa trẻ nhạt dần, phân rã thành những hạt bụi ánh sáng vàng li ti rồi tan biến vào hư không.
他伸手去碰杰克的肩膀。“我们……逃出来了,对吧,杰克?”可手指却穿过一片空荡的空气。仅仅一个呼吸之间,五个孩子的身影开始变淡,分解成细小金色光尘,随后完全消失。
알렉스는 잭의 어깨를 향해 손을 뻗었다. “우리… 빠져나온 거 맞지, 잭?” 하지만 손가락은 텅 빈 공기를 그대로 통과했다. 한 번 숨 쉬는 사이 다섯 아이의 모습이 희미해지더니 작은 금빛 입자로 부서져 허공 속으로 사라졌다.
P55
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 56 / 62
Jack turned toward Alex, his mouth forming words he never got to speak. His entire body twisted along a wave of quantum interference and disappeared without leaving even a shadow. The magnificent Cyber Boat dissolved as well, vanishing like foam on the ocean.
Jack quay đầu nhìn Alex, khẩu hình miệng như định nói điều gì đó, nhưng toàn bộ cơ thể cậu cũng vặn xoắn theo một đường sóng nhiễu lượng tử rồi biến mất không để lại một vệt bóng. Cả chiếc Cyber Boat tráng lệ cũng tan biến như bọt nước đại dương.
杰克转头看向亚历克斯,嘴形像是要说些什么,却一句也没来得及说出口。整个身体沿着一道量子干涉波扭曲起来,随后连影子都没留下便彻底消失。宏伟的 Cyber Boat 也同时溶解,如海上的泡沫般散去。
잭이 알렉스를 돌아봤다. 무언가 말하려 입을 움직였지만 소리는 나오지 못했다. 그의 몸 전체가 양자 간섭의 파동을 따라 뒤틀리더니 그림자 하나 남기지 않고 사라졌다. 웅장한 Cyber Boat 역시 바다의 거품처럼 녹아 없어졌다.
Alex jerked backward in shock. He was no longer on the water. He was sitting in the familiar padded swivel chair in his bedroom, inside the apartment overlooking Victoria Harbour.
Alex giật bắn mình, bật ngửa ra phía sau. Cậu không còn ở trên mặt nước. Cậu đang ngồi trên chiếc ghế xoay bọc đệm êm ái quen thuộc trong phòng ngủ của mình tại căn hộ nhìn ra Vịnh Victoria.
亚历克斯吓得猛地向后一仰。他已经不在水面上了。自己正坐在卧室里那张熟悉的软垫转椅上,所在的公寓可以俯瞰维多利亚港。
알렉스는 놀라 몸을 뒤로 젖혔다. 더 이상 물 위가 아니었다. 빅토리아 하버가 내려다보이는 아파트의 자기 방, 익숙한 푹신한 회전의자에 앉아 있었다.
His three-monitor computer setup was still glowing, the screensaver showing a slowly rotating galaxy. Bright morning sunlight streamed through the window, illuminating shelves of model toys, gaming posters, and stacks of unfinished programming books.
Dàn máy tính ba màn hình vẫn đang sáng đèn, chạy chế độ màn hình chờ hiển thị dải ngân hà quay chậm. Ánh nắng sớm rực rỡ của ngày mới lọt qua khung cửa sổ, rọi sáng những kệ đồ chơi mô hình, poster game và những chồng sách lập trình dang dở.
三台显示器组成的电脑仍亮着,屏保里一条银河缓慢旋转。明亮晨光穿过窗户,照亮了模型玩具架、游戏海报,以及一摞摞还没读完的编程书。
세 대의 모니터로 된 컴퓨터는 여전히 켜져 있었고 화면보호기에는 은하가 천천히 회전하고 있었다. 밝은 아침 햇살이 창문으로 들어와 모형 장난감 선반과 게임 포스터, 아직 다 읽지 못한 프로그래밍 책 더미를 비췄다.
P56
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 57 / 62
From downstairs came the clatter of dishes and Mom Kim's familiar voice. "Alex! Ava! Are you two coming down for breakfast or not? The bus will be here soon!" Alex touched his face. His forehead still ached from the impact.
Từ dưới nhà vọng lên tiếng bát đĩa lách cách và giọng nói quen thuộc của mẹ Kim: “Alex! Ava! Hai đứa có chịu xuống ăn sáng không thì bảo? Xe buýt sắp tới rồi đấy!” Alex sờ lên mặt mình. Trán cậu vẫn còn ê ẩm vì cú va đập.
楼下传来碗碟碰撞声,还有金妈妈熟悉的声音:“Alex!Ava!你们到底下不下来吃早餐?校车马上就到了!”亚历克斯摸了摸自己的脸。额头还因为撞击隐隐作痛。
아래층에서 그릇 부딪치는 소리와 엄마 김의 익숙한 목소리가 들렸다. “알렉스! 아바! 너희 아침 먹으러 내려올 거야 말 거야? 버스 곧 온다!” 알렉스는 얼굴을 만졌다. 이마에는 충격의 통증이 아직 남아 있었다.
Everything had felt too real—the freezing cold at the bottom of the Bạch Đằng River, the burning heat of Pearl Harbor, the suffocating fear of facing the king of the jungle. Could all of it have been one long dream caused by staying up too late playing virtual-reality games?
Mọi thứ diễn ra quá chân thực, từ cái lạnh buốt của đáy sông Bạch Đằng, sức nóng rát của Trân Châu Cảng, cho đến cảm giác nghẹt thở khi đối mặt chúa sơn lâm… Chẳng lẽ tất cả chỉ là một giấc mơ kéo dài do cậu thức khuya chơi game thực tế ảo quá độ?
一切都真实得过分——白藤江河底刺骨的寒冷、珍珠港灼人的高温,还有直面丛林之王时令人窒息的恐惧。难道这一切真的只是他熬夜玩虚拟现实游戏后做的一场漫长梦境?
모든 게 지나치게 현실적이었다. 박당강 바닥의 얼어붙을 듯한 추위, 진주만의 타는 열기, 정글의 왕과 마주했을 때 숨이 막히던 공포까지. 정말 이 모든 것이 밤늦게까지 가상현실 게임을 한 뒤 꾼 긴 꿈이었을까?
Still dazed, Alex stood and absently slipped both hands into the pockets of his sweatpants. His fingertips struck something hard, angular, and icy cold. Beside it was another object with a rough surface. His heart hammered as he slowly pulled his hand out.
Thẫn thờ đứng dậy, hai tay Alex vô thức đút vào túi chiếc quần thể thao. Đầu ngón tay cậu chạm phải một vật cứng ngắc, góc cạnh và lạnh buốt. Cạnh đó là một vật thể thô ráp khác. Tim đập thình thịch, Alex chầm chậm rút tay ra.
亚历克斯仍有些失神,起身时下意识把双手伸进运动裤口袋。指尖碰到一个坚硬、有棱角、冰冷刺骨的东西。旁边还有另一个表面粗糙的物体。他心跳猛然加快,慢慢把手抽了出来。
멍한 채 일어난 알렉스는 무심코 양손을 트레이닝바지 주머니에 넣었다. 손끝에 딱딱하고 각진, 얼음처럼 차가운 물체가 닿았다. 그 옆에는 표면이 거친 다른 물건도 있었다. 심장이 쿵쿵 뛰는 가운데 그는 천천히 손을 꺼냈다.
P57
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 58 / 62
In his palm, beneath the very real morning sunlight of the twenty-first century, lay two pieces of evidence that did not belong in this room. The first was a dark ironwood fragment, one end sharpened and charred, its grain still soaked with silty water and carrying the ancient muddy smell of the Bạch Đằng River.
Trong lòng bàn tay cậu, dưới ánh nắng ban mai thực tế của thế kỷ hai mươi mốt, là hai vật chứng không thuộc về căn phòng này: Vật thứ nhất là một mảnh gỗ lim sẫm màu, một đầu vạt nhọn cháy xém, thớ gỗ ngậm đầy nước phù sa và vẫn tỏa ra mùi bùn ngấu ngàn năm của dòng sông Bạch Đằng.
在二十一世纪无比真实的晨光下,他掌心里躺着两件绝不属于这个房间的证据。第一件是一小块深色铁木,一端削尖并被烧焦,木纹里仍浸着带泥沙的水,还散发着白藤江古老而厚重的泥土气味。
21세기의 너무나 현실적인 아침 햇살 아래, 알렉스의 손바닥에는 이 방에 있을 수 없는 증거 두 개가 놓여 있었다. 첫 번째는 짙은 색의 철목 조각이었다. 한쪽 끝은 뾰족하게 깎이고 그을려 있었고, 나뭇결에는 여전히 흙탕물이 배어 박당강의 오래된 진흙 냄새가 났다.
The second was a jet-black piece of alloy, its edge warped and curled by extreme heat. The metal surface felt smooth as velvet and held no dust. Fine recessed nano-circuit grooves glimmered with faint violet light—the shattered core fragment of a NEXUS device.
Vật thứ hai là một mảnh hợp kim màu đen tuyền, mép bị biến dạng co quắp dưới nhiệt độ cực hạn. Bề mặt kim loại mịn như nhung, không hề bám bụi, và khắc chìm những đường rãnh vi mạch nano phát ra ánh sáng tím le lói — mảnh vỡ lõi thiết bị của thực thể NEXUS!
第二件是一块漆黑合金,边缘因极端高温而扭曲卷曲。金属表面如天鹅绒般光滑,一点灰尘也不沾。细密凹刻的纳米电路沟槽发出微弱紫光——这是 NEXUS 装置核心破裂后留下的碎片。
두 번째는 새까만 합금 조각이었다. 가장자리는 극한의 열로 뒤틀려 말려 있었고, 금속 표면은 벨벳처럼 매끄러우면서 먼지 하나 붙지 않았다. 오목하게 파인 미세 나노 회로 홈에서 희미한 보랏빛이 흘러나왔다. NEXUS 장치 코어의 파편이었다.
It had all been real. "Jack!" Alex grabbed his phone and called immediately. One ring. Two. No answer. He called again, sent messages, then opened the locator app for their wearable devices. DEVICE_ID: JACK_WEARABLE_02 STATUS: OFFLINE.
Mọi chuyện hoàn toàn có thật! “Jack!” Alex chộp điện thoại gọi ngay. Một hồi chuông. Hai hồi. Không ai bắt máy. Cậu gọi lại, nhắn tin, rồi mở ứng dụng định vị thiết bị đeo tay của hai đứa. DEVICE_ID: JACK_WEARABLE_02 STATUS: OFFLINE.
这一切真的发生过。“杰克!”亚历克斯立刻抓起手机拨号。一声。两声。没人接。他又打了一次,发消息,随后打开两人穿戴设备的定位应用。DEVICE_ID: JACK_WEARABLE_02 STATUS: OFFLINE.
전부 진짜였다. “잭!” 알렉스는 즉시 휴대폰을 집어 전화를 걸었다. 한 번. 두 번. 받지 않았다. 다시 전화를 걸고 메시지를 보낸 뒤 둘의 웨어러블 기기 위치 앱을 열었다. DEVICE_ID: JACK_WEARABLE_02 STATUS: OFFLINE.
P58
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 59 / 62
LAST PING: DECEMBER 07, 1941 — 08:02 AM. TEMPORAL DISPLACEMENT: UNRESOLVED. The final line sent a chill down Alex's spine. But he was not ready to conclude that Jack was trapped in the past. After everything that had happened, a synchronization error could also produce meaningless data.
LAST PING: DECEMBER 07, 1941 — 08:02 AM. TEMPORAL DISPLACEMENT: UNRESOLVED. Dòng cuối khiến Alex lạnh sống lưng. Nhưng cậu chưa dám kết luận Jack mắc kẹt trong quá khứ. Sau tất cả những gì vừa xảy ra, một lỗi đồng bộ cũng có thể tạo ra những dữ liệu vô nghĩa.
LAST PING: DECEMBER 07, 1941 — 08:02 AM. TEMPORAL DISPLACEMENT: UNRESOLVED. 最后一行让亚历克斯脊背发凉。但他还不敢断定杰克真的被困在过去。经历了刚才的一切后,同步错误同样可能生成毫无意义的数据。
LAST PING: DECEMBER 07, 1941 — 08:02 AM. TEMPORAL DISPLACEMENT: UNRESOLVED. 마지막 줄을 보는 순간 알렉스의 등골이 서늘해졌다. 하지만 잭이 과거에 갇혔다고 단정할 수는 없었다. 지금까지 겪은 일을 생각하면 동기화 오류가 의미 없는 데이터를 만들어 냈을 가능성도 있었다.
Alex ran to Jack's house. His family said Jack was away with relatives and that his phone might simply have no signal. The explanation sounded ordinary enough that no one else was worried. Alex stood outside the door for a while, relieved and uneasy at the same time. If Jack really was traveling, why did his device's last record come from 1941?
Alex chạy sang nhà Jack. Người nhà cho biết Jack đang đi xa cùng người thân và điện thoại có thể mất sóng. Câu trả lời đủ bình thường để không ai lo lắng. Alex đứng ngoài cửa một lúc, vừa nhẹ nhõm vừa bất an. Nếu Jack thật sự đang đi xa, tại sao thiết bị lại ghi lần cuối ở năm 1941?
亚历克斯跑去杰克家。家人说杰克正和亲戚一起外出,手机可能只是没信号。这个解释听起来足够平常,因此其他人谁也没有担心。亚历克斯在门外站了一会儿,既松了口气,又无法真正安心。如果杰克真的只是出门旅行,为什么设备最后一次记录会来自 1941 年?
알렉스는 잭의 집으로 달려갔다. 가족은 잭이 친척들과 멀리 나가 있으며 휴대폰이 단순히 신호를 못 잡는 것일 수 있다고 했다. 설명은 충분히 평범해서 다른 사람은 아무도 걱정하지 않았다. 알렉스는 문밖에 한동안 서 있었다. 안도하면서도 불안했다. 잭이 정말 여행 중이라면 왜 기기의 마지막 기록이 1941년에서 왔을까?
For an entire week, Alex lived almost normally: school, meals, answering Mom Kim, arguing with Ava over small things. Only one part of his life was not normal. Every night he opened his computer and checked for Jack. No signal. The NEXUS alloy fragment stayed locked inside a metal box on his desk.
Suốt một tuần, Alex sống gần như bình thường: đi học, ăn cơm, trả lời mẹ Kim, cãi nhau với Ava về những chuyện vụn vặt. Chỉ có một việc không bình thường. Mỗi tối cậu đều mở máy kiểm tra Jack. Không tín hiệu. Mảnh hợp kim NEXUS được cất trong hộp kim loại trên bàn.
整整一个星期,亚历克斯几乎照常生活:上学、吃饭、回答金妈妈的话,也会因为小事和 Ava 拌嘴。只有一部分生活不正常。每天晚上,他都会打开电脑检查杰克的信号。始终没有。NEXUS 合金碎片则被锁在书桌上的金属盒里。
일주일 동안 알렉스는 거의 평소처럼 살았다. 학교에 가고 밥을 먹고 엄마 김에게 대답하고, 사소한 일로 아바와 다투기도 했다. 단 하나만 평범하지 않았다. 매일 밤 컴퓨터를 켜고 잭을 확인했다. 신호는 없었다. NEXUS 합금 파편은 책상 위 금속 상자에 잠겨 있었다.
P59
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 60 / 62
Sometimes, when Alex ran a scan, the violet grooves on the fragment gave off a very faint flash. He changed networks, switched computers, and rewrote the script. The result never changed. On Saturday night, the clock in the corner of the screen rolled to 11:58. Suddenly the alloy fragment lit up. Alex sat upright.
Thỉnh thoảng, khi Alex chạy chương trình quét, những rãnh tím trên bề mặt nó lóe lên rất yếu. Cậu thử đổi mạng, đổi máy, viết lại script. Kết quả vẫn như nhau. Tối thứ Bảy, đồng hồ góc màn hình nhảy sang 11:58. Mảnh hợp kim bỗng sáng lên. Alex ngồi thẳng dậy.
有时亚历克斯运行扫描程序,碎片表面的紫色沟槽会极其微弱地闪一下。他换网络、换电脑、重写脚本,结果始终没有变化。星期六晚上,屏幕角落的时钟跳到 11:58。合金碎片突然亮了起来。亚历克斯猛地坐直身体。
가끔 알렉스가 스캔 프로그램을 돌리면 파편 표면의 보랏빛 홈이 아주 약하게 번쩍였다. 네트워크를 바꾸고 컴퓨터를 바꾸고 스크립트를 다시 써도 결과는 같았다. 토요일 밤, 화면 구석 시계가 11:58을 가리켰다. 갑자기 합금 파편이 빛났다. 알렉스는 몸을 벌떡 세웠다.
He ran the program again. This time, a tiny pulse of interference appeared on the graph, regular as a knock coming from very far away. The software could see it, but not cleanly enough to separate the signal from the background noise. "It's not missing code," Alex murmured. "It's missing ears to hear."
Cậu chạy lại chương trình. Lần này trên đồ thị xuất hiện một nhịp nhiễu rất nhỏ, đều như tiếng gõ từ rất xa. Phần mềm nhìn thấy nó nhưng không đủ để tách tín hiệu ra khỏi nền. “Không phải thiếu code,” Alex lẩm bẩm. “Thiếu tai để nghe.”
他再次运行程序。这一次,图表上出现了一道极微弱的干扰脉冲,规律得像从很远地方传来的敲门声。软件能看见它,却无法干净地把它从背景噪声中分离出来。“不是缺代码。”亚历克斯低声说道。“是缺一双能听见它的耳朵。”
그는 프로그램을 다시 돌렸다. 이번에는 그래프에 아주 작은 간섭 펄스가 나타났다. 멀리서 들려오는 노크처럼 일정한 간격이었다. 소프트웨어는 그것을 보고 있었지만 배경 잡음에서 깨끗하게 분리할 수는 없었다. “코드가 부족한 게 아니야.” 알렉스가 중얼거렸다. “들을 귀가 부족한 거야.”
He thought of Ben immediately. Ben was the one kid in their group who could take apart a broken radio, add two circuit boards, and catch a signal nobody else even knew existed. Alex called him. "Bring your HackRF, the spectrum analyzer, and those antennas over here."
Cậu nghĩ ngay đến Ben. Ben là đứa trong nhóm có thể tháo một chiếc radio hỏng, ghép thêm hai bo mạch rồi bắt được tín hiệu mà người khác còn không biết tồn tại. Alex gọi. “Mang HackRF, máy phân tích phổ và mấy cái ăng-ten của mày qua đây.”
他立刻想到了 Ben。整个小组里,只有 Ben 能拆开一台坏掉的收音机,再加两块电路板,就抓到别人甚至不知道存在的信号。亚历克斯给他打电话。“把你的 HackRF、频谱分析仪,还有那些天线都带过来。”
그는 곧바로 벤을 떠올렸다. 그룹에서 고장 난 라디오를 분해하고 회로기판 두 개를 더 붙여 아무도 존재조차 몰랐던 신호를 잡아낼 수 있는 아이는 벤뿐이었다. 알렉스가 전화를 걸었다. “HackRF랑 스펙트럼 분석기, 네 안테나들 전부 가져와.”
P60
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 61 / 62
Ben yawned on the other end. "Did you fry another graphics card?" "Jack is missing." Silence. "I'm coming." Twenty minutes later, Ben arrived in an oversized hoodie with two backpacks stuffed with cables, circuit boards, connectors, and tools. Alex did not tell him the whole story. He simply placed the black alloy fragment on the desk.
Ben ngáp ở đầu dây bên kia. “Mày lại đốt card đồ họa à?” “Jack mất tích.” Im lặng. “Qua ngay.” Hai mươi phút sau, Ben xuất hiện với hoodie rộng thùng thình và hai ba-lô đầy dây cáp, bo mạch, đầu nối và dụng cụ. Alex không kể toàn bộ câu chuyện. Cậu chỉ đặt mảnh hợp kim đen lên bàn.
电话另一头的 Ben 打了个哈欠。“你又把显卡烧了?” “杰克失踪了。”沉默。“我马上过去。”二十分钟后,Ben 穿着宽大的连帽衫出现了,背着两个塞满电缆、电路板、接头和工具的背包。亚历克斯没有把整个故事都讲出来,只是把那块黑色合金放到桌上。
전화기 너머에서 벤이 하품했다. “또 그래픽카드 태워 먹었냐?” “잭이 없어졌어.” 침묵. “지금 갈게.” 20분 뒤 벤은 헐렁한 후드티를 입고 케이블과 회로기판, 커넥터, 공구가 가득한 배낭 두 개를 메고 나타났다. 알렉스는 모든 이야기를 하지 않았다. 그저 검은 합금 파편을 책상 위에 올려놓았다.
Ben examined it through an electronic magnifier and touched a probe to the scorched edge. The meter lit up even though the metal fragment was connected to no power source. The smile disappeared from Ben's face. "Where did you get this?" "That's the part I don't know how to explain yet." "Then don't explain it. Give me the signal."
Ben soi nó bằng kính lúp điện tử, chạm đầu dò vào mép cháy xém. Đèn đo sáng lên dù mảnh kim loại không nối với nguồn. Nụ cười trên mặt Ben biến mất. “Cái này lấy ở đâu?” “Đó là phần tao chưa biết giải thích thế nào.” “Vậy đừng giải thích. Cho tao tín hiệu.”
Ben 用电子放大镜观察碎片,又把探针碰到烧焦边缘。明明没有连接任何电源,仪表却亮了起来。Ben 脸上的笑容消失了。“这东西哪来的?” “这一部分我还不知道该怎么解释。” “那就别解释。把信号给我。”
벤은 전자 확대경으로 파편을 살펴본 뒤 탐침을 그을린 가장자리에 댔다. 어떤 전원에도 연결되어 있지 않은데 계측기 불이 들어왔다. 벤의 웃음이 사라졌다. “이거 어디서 났어?” “그 부분은 아직 어떻게 설명해야 할지 모르겠어.” “그럼 설명하지 마. 신호부터 줘.”
They connected the SDR receiver to the computer. Ben built the filter while Alex supplied the interference sample he had recorded all week. The first scan produced only background noise. The second was the same. On the third pass, a sharp beep cut through the room. SIGNAL DETECTED. PACKET_HEADER: JACK_BEACON_V2. STATUS: PING ACKNOWLEDGED. TEMPORAL DRIFT: UNSTABLE.
Hai đứa nối bộ thu SDR với máy tính. Ben dựng bộ lọc; Alex đưa cho cậu mẫu nhiễu đã ghi suốt tuần. Lần quét đầu chỉ có tiếng nền. Lần thứ hai vẫn vậy. Đến lần thứ ba, một tiếng BÍP vang lên. SIGNAL DETECTED. PACKET_HEADER: JACK_BEACON_V2. STATUS: PING ACKNOWLEDGED. TEMPORAL DRIFT: UNSTABLE.
两个人把 SDR 接收机接上电脑。Ben 搭建滤波器,亚历克斯把这一周记录下来的干扰样本交给他。第一次扫描只有背景噪声。第二次依旧如此。第三次时,一声清脆的哔声划破房间。SIGNAL DETECTED. PACKET_HEADER: JACK_BEACON_V2. STATUS: PING ACKNOWLEDGED. TEMPORAL DRIFT: UNSTABLE.
둘은 SDR 수신기를 컴퓨터에 연결했다. 벤이 필터를 만들고 알렉스는 일주일 동안 기록해 둔 간섭 샘플을 제공했다. 첫 번째 스캔에는 배경 잡음만 있었다. 두 번째도 같았다. 세 번째 시도에서 날카로운 삑 소리가 방 안을 갈랐다. SIGNAL DETECTED. PACKET_HEADER: JACK_BEACON_V2. STATUS: PING ACKNOWLEDGED. TEMPORAL DRIFT: UNSTABLE.
P61
CHAPTER 10 AI TRỞ VỀ?
PAGE 62 / 62
Ben shot out of his chair. "Jack?" Alex never got the chance to answer. The NEXUS alloy fragment began to heat up. The piece of Bạch Đằng ironwood beside it vibrated. On the monitor, Jack's signal, Ben's receiver, and Alex's program locked into the same rhythm. TRI-SIGNAL DETECTED. TEMPORAL ANCHORS: SYNCHRONIZED. GATEWAY 03 ACTIVATED. DESTINATION: UNKNOWN. INITIATING BLACK ARROW PROTOCOL...
Ben bật khỏi ghế. “Jack?” Alex chưa kịp trả lời. Mảnh hợp kim NEXUS nóng lên. Mảnh gỗ Bạch Đằng bên cạnh rung theo. Trên màn hình, tín hiệu của Jack, bộ thu của Ben và chương trình của Alex khóa vào cùng một nhịp. TRI-SIGNAL DETECTED. TEMPORAL ANCHORS: SYNCHRONIZED. GATEWAY 03 ACTIVATED. DESTINATION: UNKNOWN. INITIATING BLACK ARROW PROTOCOL…
Ben 猛地从椅子上弹了起来。“杰克?”亚历克斯还没来得及回答,NEXUS 合金碎片就开始发热。旁边那块白藤江铁木也随之震动。屏幕上,杰克的信号、Ben 的接收机和亚历克斯的程序锁进了同一个节奏。TRI-SIGNAL DETECTED. TEMPORAL ANCHORS: SYNCHRONIZED. GATEWAY 03 ACTIVATED. DESTINATION: UNKNOWN. INITIATING BLACK ARROW PROTOCOL...
벤이 의자에서 벌떡 일어났다. “잭?” 알렉스는 대답할 틈도 없었다. NEXUS 합금 파편이 뜨거워지기 시작했다. 옆에 놓인 박당강 철목 조각도 떨렸다. 모니터에서는 잭의 신호, 벤의 수신기, 알렉스의 프로그램이 같은 리듬으로 맞물렸다. TRI-SIGNAL DETECTED. TEMPORAL ANCHORS: SYNCHRONIZED. GATEWAY 03 ACTIVATED. DESTINATION: UNKNOWN. INITIATING BLACK ARROW PROTOCOL...
The room lights went out. The air above the workbench warped, then tore open into a black, arrow-shaped rift. Wind ripped papers, cables, and tiny screws off the desk. From the other side came a long, distorted siren, as if its sound were traveling through layer after layer of time.
Đèn trong phòng tắt phụt. Không khí phía trên bàn làm việc méo đi rồi rách thành một khe đen hình mũi tên. Gió hút tung giấy, dây cáp và những con ốc nhỏ khỏi mặt bàn. Từ phía bên kia vọng lại một tiếng còi dài, méo mó như đi xuyên qua nhiều lớp thời gian.
房间里的灯全部熄灭。工作台上方的空气扭曲起来,随后撕开一道黑色、箭头形状的裂缝。狂风把纸张、电缆和细小螺丝从桌面卷飞。裂缝另一侧传来一声悠长而变形的警报,仿佛那声音正穿过一层又一层时间。
방 안의 불이 모두 꺼졌다. 작업대 위 공기가 뒤틀리더니 검은 화살 모양의 균열로 찢어졌다. 바람이 책상 위 종이와 케이블, 작은 나사들을 휩쓸어 날렸다. 반대편에서는 길고 일그러진 사이렌 소리가 들려왔다. 마치 여러 겹의 시간을 지나오는 소리 같았다.
Ben dropped his screwdriver. "Alex... what did you just open?" Alex tightened his grip on the alloy fragment, his eyes fixed on the dark rift. "I don't know." He grabbed the receiver. "But if Jack is on the other side, we're going to find him." (END OF BOOK 2 — CONTINUED IN BOOK 3)
Ben đánh rơi chiếc tua-vít. “Alex… mày vừa mở cái gì vậy?” Alex siết mảnh hợp kim trong tay, mắt không rời khe tối. “Tao không biết.” Cậu chộp lấy máy thu. “Nhưng nếu Jack ở phía bên kia, tụi mình đi tìm nó.” (HẾT CUỐN 2 — ĐÓN ĐỌC CUỐN 3)
Ben 手里的螺丝刀掉在地上。“亚历克斯……你刚刚打开了什么?”亚历克斯紧握合金碎片,目光始终锁定黑暗裂缝。“我不知道。”他一把抓起接收机。“但如果杰克在另一边,我们就去把他找回来。”(第二卷完——故事将在第三卷继续)
벤이 드라이버를 떨어뜨렸다. “알렉스… 너 방금 뭘 연 거야?” 알렉스는 합금 파편을 꽉 쥔 채 어두운 균열에서 눈을 떼지 않았다. “나도 몰라.” 그는 수신기를 움켜쥐었다. “하지만 잭이 저 너머에 있다면, 우리가 찾으러 갈 거야.” (2권 끝 — 3권에서 계속)
P62